Hiển thị các bài đăng có nhãn news. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn news. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Bệnh Đau Thắt Lưng (back Pain)


Bệnh Đau Thắt Lưng (back Pain)  

Chu Tất Tiết
Tác giả là một nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động cộng đồng quen biết. Từ lâu, ông thường góp bài cho giải thưởng Viết Về Nước Mỹ, kèm theo lời ghi là không để dự thi. Sau đây là bài góp mới nhất của ông.
Trong nước Mỹ này, có đến 8/10 người bị đủ thứ bệnh đau lưng, từ nhẹ đến nặng  (http://www.nlm.nih.gov/medlineplus). Hằng năm, nước Mỹ phải chi ra khoảng 27 tỷ đô la để chữa trị các chứng đau lưng và các vết thương ở thắt lưng.
Thường thường thì những người đau lưng ở trong độ tuổi 45 trở lên, nhưng có một số lớn các người trẻ dưới 20 tuổi cũng mắc phải. Nguyên nhân gây ra bệnh đau lưng có rất nhiều: bẩm sinh, va đụng thần kinh, bị thương, bị té, bị vật nặng đụng vào lưng, nứt xương, nhiễm trùng, sau giải phẫu, xương sống thoái hóa, sưng khớp, hệ tuần hoàn bị nghẽn, đứng lâu, ngồi cong lưng,  và một nguyên  nhân ít người nghĩ đến là sự căng thẳng cũng làm đau lưng. Riêng về sự thoái hóa của xương sống, cũng có nhiều loại: thoái hóa vì tuổi già (degenerative disc disease - D D D), đĩa sụn bị lồi lên (herniated disc), xương xốp (osteoporosis), trật xương sống (spondylolisthesis), và hẹp rãnh xương (stenosis).
Các phương pháp trị liệu: Khi bị đau lưng, người bị đau lưng hay nghĩ ngay đến bác sĩ về chỉnh xương, nắn gân (chiropractor) để làm "therapy" nghĩa là "vật lý trị liệu". Thường thì các Bác sĩ  ít khi tự tay làm "vật lý trị liệu" mà chỉ nhờ một cô phụ tá, cho người bệnh nằm lên một cái giường, nơi có mấy cái cục bi lăn lên, lăn xuống sống lưng. Người bệnh cũng có thể được trị liệu bằng một hay hai cái máy mát-xa cầm tay do cô phụ tá vừa ấn xuống vừa cho mấy cục bi lăn qua. Một số uống thuốc giảm đau như Celebrex. Số khác đến xin bác sĩ chích thuốc. Trong khi chờ đợi chích thuốc, người đau lưng có thể nhờ châm cứu, mát-xa, hoặc chườm nước đá hay nước nóng. Tại vài nơi Đông Y, thầy thuốc còn đốt ngải cứu trên lưng bệnh nhân. Phương pháp này có hiệu quả với vài người, nhưng không giải quyết được căn bệnh.
Gần đây, một phương pháp đơn giản và có thể chữa được tận gốc căn bệnh: TẬP VẬN ĐỘNG XƯƠNG SỐNG, đã được các bác sĩ Tây Y khuyến cáo cũng như được phổ biến trên các mạng lưới về y khoa:http://www.annals.org,  
http://www.nlm.nih.gov/medlineplus,  hayhttp://www.back.com/treatment.html. Hầu như mọi căn bệnh đau lưng đều được các y bác sĩ khuyến cáo nên tập vận động thắt lưng, trừ những người bị chấn thương, nứt xương,  và mới được giải phẫu. Phương pháp này không tốn tiền, không đau đớn, không tác hại, và có hy vọng chữa dứt được căn bệnh, ít nhất cũng làm giảm cơn đau ngay sau khi tập. (Lưu ý: người mới bắt đầu tập có thể cảm thấy ê ẩm ở bắp thịt bên ngoài, chỉ vài ngày sau, khi bắp thịt quen dần với cử động, sẽ hết ê ẩm. Nếu sự ê ẩm kéo dài đến vài ngày, phải ngưng tập và đi hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa về xương sống).
Người viết bài này là một bệnh nhân kinh niên về đau xương sống. Từ những năm học võ Nhu Đạo vào thập niên 60, đã bị một đối thủ "bẻ" cụp xương sống, nằm thẳng cẳng trên sân tập, phải kêu xích lô chở đi bệnh viện để bó bột. Chỉ bó được vài ngày, khó chịu quá, nên đến một vị Đông Y Sĩ người Trung Hoa cũng là một võ sư, để cắt bột ra, và chỉ bó bằng một lớp vải mềm có nhồi thuốc bắc, chừng một tuần lễ là hết đau. Tập võ tiếp, không trở ngại. Đến khi đi cải tạo, đang cuốc đất, bỗng thấy đau nhói một cái từ thắt lưng đến óc, rồi cũng nằm ngay đơ như cái cán cuốc. Anh em "cõng" về (một việc làm rất không nên, vì sẽ làm trật xương sống nặng thêm!). May mắn có Bác sĩ Nhân, Bác sĩ Khánh tận tình chữa trị, vừa chích thuốc, vừa cho uống thuốc, vừa làm mát-xa, nên vài ngày là đi lại được.
Năm 1981, sau khi được về nhà, lại tiếp tục luyện tập Nhu đạo. Lần này, đấu mạnh hơn và có một lần bị đối phương quật cho một đòn, nằm luôn, không dậy được. Cũng nhờ xích lô chạy thẳng tới bệnh viện Sùng Chính. Ở đây giới thiệu đến một vị Đông Y Sĩ người Triều Châu, một võ sư nổi tiếng trong Chợ Lớn. Nơi đây, thầy thuốc cũng chỉ đắp thuốc và băng bằng một tấm vải mềm. Mỗi tuần đi thay thuốc một lần. Chừng một tháng thì khỏi. Khi đến Mỹ, hai năm đầu phải đi làm lao động nặng: giao hàng Furniture, đồ đạc trong nhà. Lúc đó, đã lớn tuổi, nhưng vẫn phải vác cả cái Love Seat lên vai một mình, và phụ khiêng những cái tủ nặng vài trăm kílô, những cái Sofa Bed, tức là ghế có cả giường sắt để ngủ, và nhiều thứ đồ nặng hai, ba trăm "pao" là chuyện bình thường. Đôi lần, muốn chuyển một cái tủ gỗ nặng lên thang gác, phải lót cạc tông trên bậc thang, rồi dùng sức vai để đẩy cái tủ lên từng bước... Từ đó, thấy cái lưng mình càng ngày càng đau. Ngồi cũng đau. Đứng càng đau hơn. Đi khám bệnh, và chụp X-Ray rồi Scat Scan, MRI, siêu âm đủ kiểu để thấy rằng cái xương sống chỗ thắt lưng đã cong hình chữ  S, như giải đất Việt Nam yêu quý! Có hai ba chỗ lồi ra, từ 7mm đến 9mm, nghĩa là gần 1 cm, chạm vào dây thần kinh! Do đó mà đau kinh niên, mãn tính luôn. Hết thuốc chữa, trừ phương pháp giải phẫu. Mà theo bác sĩ chuyên môn, nếu muốn giải phẫu, phải chấp nhận một là bớt đau, hai là ...liệt, ba là ...nghoẻo! Và phải nghiên cứu lịch sử của vị bác sĩ giải phẫu thật kỹ càng, xem vị ấy đã giải phẫu bao nhiêu lần thành công, bao nhiêu lần thất bại. Thế thì chào thua cho rồi! Vậy, chỉ còn một phương pháp sau cùng: Tập thể dục thắt lưng và áp dụng khí công! Từ đó, đến nay, đã hơn mười năm, chỉ tập luyện và thấy bớt đau. Nhưng, đôi khi, vì quên những điều "cấm", lại thấy đau lại. Lúc đau quá, phải dùng thuốc (Celebrex. Thuốc này uống một viên vào lúc ăn cơm là hết liền.)  Hết đau, tập lại và kiêng những điều cấm kỵ (quý ông không cần thiết phải kiêng chuyện kia đâu...) thì không đau nữa.
Bài này được viết lại nhằm tặng cho quý vị đau lưng một phương pháp hiệu  nghiệm và tốt đẹp. Dĩ nhiên, được cái này thì mất cái kia, muốn khỏi đau, mà không tốn tiền, thì phải tập hoài hoài, và phải kiêng những điều "cấm" sẽ trình bầy sau đây.

1-Những điều "cấm", không được làm:

-NGỒI CONG LƯNG. Đầu cúi về phía trước, lưng cong lại khi đánh máy computer, hay cầm tay lái xe. BẮT BUỘC phải ngồi thẳng lưng bất cứ lúc nào, đường thẳng của lưng và đường thẳng của mông và đùi phải là 90độ. Luôn ngồi sát mông vào ghế. Không ngồi nửa trong nửa ngoài ghế. Không ngồi ghế sofa mềm, vì sẽ tụt mông xuống nệm, người sẽ gập lại. Đứng dậy có thể thấy buốt một chân. Lái xe: phải chỉnh cái ghế cho thẳng góc, và phải ĐỘN thêm một cái gối ngay thắt lưng cho đẩy cái thắt lưng về phía trước. Không ngồi thoải mái, dựa ngửa ra sau, đê mê nghe nhạc, nghe đài để rồi đứng dậy không nổi!
-NẰM NỆM MỀM: Tuy không cần nệm cứng quá, nhưng phải dùng loại nệm vừa phải, không lõm xuống khi ta nằm lên. Nằm 8 tiếng với cái lưng cong, thì nhất định sẽ đau nhức cả đời. Nếu chưa có dịp thay nệm, thì kiếm cái chăn mỏng nào, gấp lại, để dưới lưng.
-NẰM CONG NGƯỜI: Cũng như ngồi cong lưng, nếu nằm cong người thì sẽ đau dài dài. Tuy nằm cong lưng thấy thoải mái, ấm áp hơn, nhất là được ... ôm ấp  dễ chịu, nhưng nếu nhớ đến cái cơn đau lưng hành hạ, thì nên đổi thế nằm ngửa, hai tay thả theo thân mình, dùng gối thấp, hoặc không gối thì tốt hơn. (Ngủ không gối, nằm thẳng là một kiểu Thiền đấy!) Mới nằm kiểu này thấy khó chịu, thiếu thiếu cái gì, nhưng tập riết rồi sẽ quen.
-ĐỨNG LÂU. Hầu như tất cả trọng lượng của con người dồn vào chỗ thắt lưng. Nặng bao nhiêu "pao" thì bấy nhiêu "pao" dồn vào cái thắt lưng hết. Nếu đứng lâu, trọng lượng của chính mình sẽ lại làm mình đau. Không nên đứng nhiều một chỗ, mà phải di chuyển đều đặn. Người đau nhiều, đứng rửa bát cũng đau.
-CHẠY QUÁ MẠNH. Tập chạy thì rất tốt cho cơ thể, nhưng với người đau lưng, chạy mạnh quá, sẽ làm các đốt xương dập vào nhau, gây thêm đau đớn. Chạy nhẹ nhàng, vừa phải thì rất tốt vì khiến các đốt xương chuyển động điều hòa, nhẹ nhàng, kích thích chất hoạt dịch tại các đầu xương làm êm dịu các cơn đau.
-TẬP CÁC THẾ GẬP NGƯỜI VỀ PHÍA TRƯỚC (đứng hay nằm). Người đã bị đau vì các khớp xương đã bị gập về trước, nay lại gập mạnh về phía trước nữa thì có khác gì tự mình bẻ cong thêm cái xương đã cong sẵn!
-TẬP CÁC THẾ YOGA UỐN XƯƠNG SỐNG. Không nên làm những động tác nào mà phải nghiêng mình lâu. Tập Yoga rất tốt nhưng không được tập các thế nào mà phải bẻ cong xương sống. Trong sinh hoạt thường ngay, không với tay và quẹo người qua một bên. Dĩ nhiên, không thể làm thợ sửa xe vì có nhiều thế bắt phải quẹo cả người. Những thế vẹo người, cúi người lâu sẽ bẻ xương sống mình thành một cái vòng cung và dần dần không thể thẳng lại được nữa. Nhiều người thợ cấy, thợ mộc đã phải đi khòm người cho đến suốt đời.
-KHÔNG CÚI NGƯỜI ĐỂ NHẤC ĐỒ VẬT NẶNG. Nếu phải nhắc đồ vật nặng vài chục "pao" thì phải dùng bắp đùi, không dùng sống lưng mà nhắc vật lên. Nghĩa là giữ cho phần trên lưng vẫn thẳng góc với mặt đất, hai chân rùn xuống, dùng sức mạnh của bắp thịt đùi mà đứng lên. Không cúi cong người xuống, ráng nhấc cái gì lên... đôi khi xương sống kêu lên một tiếng "rắc" là đi đời nhà ma! Hết giấc mộng... yêu đương vĩnh viễn.

2-Những điều nên làm:

a-Vặn thắt lưng: Đứng thẳng, hai tay buông xuôi theo thân người. Hai chân thẳng về đằng trước. Từ từ xoay qua bên phải, hai tay "quăng" theo (không gồng bắp thịt, mà thả lỏng cho tay "quăng" đi) cho đến hết cỡ, không thể xoay được nữa thì ngưng lại 3 giây rồi "quăng" tay trở lại bên trái. Khi bắt đầu xoay, thì hít vào chầm chậm qua mũi, khi ngưng lại thì nén hơi, đếm 1,2,3. Nhớ là làm thật chậm, càng chậm càng tốt, để cho hít Oxy vào thật nhiều. Làm 10 lần mỗi bên. Hít sâu, nén hơi, rồi thở dài như thế tức là tập Khí Công (Khí = hơi thở, Công = tập luyện). Tất cả động tác hít thở đều làm qua mũi, không há mồm.
b-Xoay "hu-la-húp": Chắc mọi người, ai cũng từng nhìn thấy người chơi vòng gọi là hu-la-húp: người chơi để một cái vòng tròng ngay thắt lưng mình, rồi lắc sao cho cái vòng không rơi xuống chân. Người đau lưng cũng làm như vậy.  Hai tay chống hông. Lắc thắt lưng theo một vòng tròn như chơi "hu-la-húp", nghĩa là đẩy thắt lưng tới trước rồi tiếp tục lắc về phía bên trái theo vòng tròn, khi đến phía đàng sau, thì đẩy thắt lưng về phía sau, lại kéo qua bên phải rồi đẩy tới trước, cho đủ một vòng tròn. Làm chậm rãi. Trong khi xoay hu-la-húp như thế, thì cũng hít sâu, thở ra thật chậm. Nếu thấy giải thích như thế này còn khó hiểu thì nhờ người nào nhẩy hu-la-húp cho mình xem và bắt chước. Điều khác nhau là mình tập thật chậm trong khi nhẩy hu-la-húp thực thì lại rất nhanh. Lưu ý: trong khi xoay vòng như thế, để ý xem là có bị đau một bên không, nếu đau bên phải thì bớt xoay về bên phải mà xoay nhiều về bên trái. Nếu thấy đau bên trái, thì xoay ngược lại phía bên kia. Vì nếu thấy đau ở bên phải khi xoay, có nghĩa là có một đĩa sụn nào đó, lồi ra, chạm vào bên phải. Bây giờ, mình cử động nhiều về bên phải, thấy đau. Bởi vậy, mình phải bớt nghiêng về bên phải trong khi tập bên trái nhiều hơn, cho quân bằng lại.
c-Làm Giãn xương 1: Có vị bác sĩ khuyên  nên làm động tác giãn xương bằng cách nằm ngửa trên nệm, rồi tập trườn  người tới trước, như khi lính trườn người dưới giao thông hào để kéo giãn xương ra. Có trung tâm chuyên Kéo xương, cho người bệnh nằm lên giường, buộc tay chân người bệnh ra hai phía đầu và chân, rồi điều chỉnh mấy cái nút cho cơ thể người bệnh giãn ra (Người viết có lần hỏi thăm một bác sĩ Mỹ và được biết giá biểu là từ Ba (3) đến Năm (5) ngàn đô!) Riêng với người viết, phương pháp làm giãn xương rất rẻ: không tốn đồng nào! Đứng thẳng, chân dang ra vừa phải, hai bàn tay ngửa lên trời, để chồng lên nhau trước bụng. Vẫn để hai bàn tay chồng lên nhau, chầm chậm đưa hai tay lên trời nhưng trong khi đưa, từ từ úp hai lòng bàn tay xuống, rồi lộn ngược lên từ từ, sao cho hai lòng bàn tay lật ngửa lên trời khi hai bàn tay ở trên đầu. (Muốn làm cho đúng, tập trước bằng cách để hai bàn tay chồng lên nhau trước bụng rồi vặn qua vặn lại cùng lúc cả hai bàn tay. Sau khi thuộc rồi, thì áp dụng với hơi thở.) Dùng hết sức đẩy hai bàn tay ngửa đó lên cao TỐI ĐA, trong khi chân dính cứng vào sàn, thì các đốt xương dính vào nhau sẽ giãn ra. Phối hợp với hơi thở, khi bắt đầu thì hít vào thật chậm, khi đẩy tay lên cao thì thở ra. Khi đã thở hết ra rồi, thì từ từ vòng tay ra hai bên, tay phải qua bên phải, tay trái qua bên trái, vẽ thành một cái vòng tròn rộng ở hai bên hông. Khi tay xuống hết dưới thì từ từ thu lại cho hai bàn tay lại chồng ngửa lên  nhau, rồi tiếp tục lộn hai bàn tay úp xuống, lộn ra ngoài rồi đẩy lên trên... Làm ít nhất 10 lần buổi sáng, 10 lần buổi chiều. Vài ngày sẽ thấy hết đau lưng. Nhớ là không nhấc gót chân lên, phải dính cứng gót chân xuống mặt đất trong khi đẩy hai tay lên trời hết cỡ, như vậy xương mới giãn ra được.
d-Làm giãn xương 2: Đứng thẳng, hai bàn tay chồng vào nhau, cùng úp xuống mặt đất. Từ từ đẩy một tay xuống gần mặt đất, trong khi tay kia giơ thẳng lên đầu, cho hai tay cách xa nhau tối đa, một tay đi xuống, một tay đi lên, giống như là bắn cung vậy. Trong khi làm như vậy, thì hít vào thật chậm. Hết cỡ rồi, thì lại đổi tay, tay đang ở trên cao từ từ đẩy xuống, tay đang ở dưới đất thì kéo lên trên. Trong khi đổi tay, thì thở ra chầm chậm. Cũng kéo cho khoảng cách hai tay xa nhau tối đa để cho xương sống giãn ra tối đa.
e-Làm cân bằng lại xương: Đứng thẳng, hai tay để trước bụng. Từ từ kéo tay trái về phía sau lưng, trong khi đẩy tay phải về phía trước, và hít vào chầm chậm. Khi tay trước tay sau đã xa nhau hết cỡ thì lại từ từ đổi tay. Kéo tay trái về rồi đẩy ra trước, trong khi tay phải đẩy ra phía sau. Cũng làm hết cỡ và thở ra chầm chậm.g-Thiền công (Yoga) đứng: Chỉ làm thế này với người đau vừa phải, chưa mổ. Đứng thẳng, hai tay chống hông. Từ từ đẩy bụng ra phía trước, như uốn cây cung về phía trước, đỉnh cây cung là cái bụng ưỡn về phía trước. Trong khi đẩy bụng ra thì hít vào thật chậm. Giữ lại ở tư thế đó 30 giây, nín hơi cho khí Oxy dồn lại trong cơ thể. Từ từ thở ra, kéo bụng trở lại. Làm 5 lần.
h-Thiền công (Yoga) nằm: Nằm sấp. Hai tay để trên thắt lưng. Từ từ nhấc đầu lên, hai bàn chân cũng co lên, cẳng chân nhấc lên khỏi mặt đất, như cánh cung, mà đỉnh giữa cây cung là cái bụng dính trên mặt đất. Hít vào và nín hơi trong 30 giây. Từ từ hạ đầu và chân xuống, nghỉ 3 giây, rồi tiếp tục. Làm 5 lần. (Phụ nữ mang bầu, và các nguời phải mổ xương không làm được các thế về bụng.)

Bệnh bại liệt sắp được thanh toán trên phạm vi toàn cầu


Bệnh bại liệt sắp được thanh toán trên phạm vi toàn cầu

Bệnh bại liệt có thể gây tàn phế suốt đời.

Năm ngoái, toàn thế giới chỉ phát hiện được 537 ca bại liệt mới, giảm 80% so với gần 3.000 ca của năm 2000 và giảm 99,8% so với 350.000 ca của năm 1998. Tuy nhiên, để nhanh chóng thanh toán căn bệnh này, những cố gắng trên phạm vi toàn cầu vẫn phải được duy trì. 

Thông báo này được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra hôm qua. Theo Tổng giám đốc Gro Harlem Brundtland, những cố gắng của "Sáng kiến thanh toán bệnh bại liệt" được đưa ra năm 1988 đã mang lại thành công. WHO hy vọng có thể ngăn chặn hoàn toàn khả năng lây lan của bại liệt trên toàn thế giới vào cuối năm 2002, và tuyên bố thanh toán bệnh vào năm 2005.
Hiện tại, có 10 nước vẫn còn bệnh này. Danh sách theo thứ tự giảm dần về số ca bệnh bao gồm: Ấn Độ, Pakistan, Nigeria, Afganistan, Niger, Somalia, Ai Cập, Angola, Ethiopia và Sudan. Trong năm 2002, Ethiopia và Sudan sẽ được xóa tên khỏi danh sách. 
WHO cũng cảnh báo rằng, trong bối cảnh của sự bất an hiện nay trên thế giới, sự chậm trễ dù là nhỏ nhất cũng có thể làm mất đi toàn bộ những kết quả này. Tại Afganistan, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc đang mở chiến dịch phòng bệnh bại liệt (từ ngày 16 tới 18/4) cho khoảng 6 triệu trẻ em. Riêng trong năm 2001, tại 94 nước, hơn 575 triệu trẻ dưới 5 tuổi đã được dùng vacxin phòng bại liệt.
(theo AFP

BẠN ĐÃ BIẾT GÌ VỀ CÁC BỆNH THÂP KHỚP ?


BẠN ĐÃ BIẾT GÌ VỀ CÁC BỆNH THÂP KHỚP ?
TS - BS LÊ ANH THƯ
Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh
(tiếp theo và hết)
5. Bệnh thống phong (Bệnh Gout - Goutty Arthritis)
            Thuộc nhóm các bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa Purine.
            Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có 1 người mắc bệnh Gout.
            Thường gặp ở nam( chiếm tỉ lệ trên 90%)
            Tuổi bắt đầu mắc bệnh, trung niên, từ 35 đến trên 40.
            Khởi bệnh: Cấp tính, đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt khớp hoàn toàn trở lại bình thường.
            Vị trí bắt đầu thường là các khớp chi dưới, đặc biệt là ngón 1 bàn chân(70%).
            Tính chất: Sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột.
            Ở một hoặc rất ít khớp, không đối xứng
            Có thể tự khỏi sau 3 - 7 ngày ( ở giai đoạn đầu)
            Giai đoạn muộn thể hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện các u cục (Tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, ở vành tai.
            Dấu hiệu toàn thân: Khi bị viêm khớp cấp, có thể sốt cao, đột ngột kèm rét run.
            Thể trạng thường khỏe mạnh, mập mạp, sung túc.
            Có thể kèm cao huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu.
            Điều trị rất có hiệu quả khi kết hợp tốt giữa điều trị triệu chứng (thuốc kháng viêm giảm đau), điều trị phòng ngừa đều đặn, liên tục, lâu dài (thuốc làm giảm acid uric máu), điều trị các bệnh kèm theo, tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
6. Bệnh sốt thấp cấp / thấp khớp cấp / thấp tim (Rheumatic Fever)
            Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn gián tiếp (qua cơ chế miễn dịch).
            Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,5 - 0,6% dân số trẻ em (dưới 15 tuổi), nghĩa là cứ khoảng 200 trẻ thì có 1 trẻ bị bệnh, bệnh rất ít gặp ở người lớn.
            Gặp đều ở cả hai giới (nữ = nam)
            Bệnh thường mắc ở trẻ em lứa tuổi đến trường (thường từ 5 - 15 tuổi).
            Khởi bệnh thường là cấp tính với sốt, đau - viêm họng, đau - viêm khớp.
            Vị trí bắt đầu thường ở các khớp lớn (khớp gối, khớp khuỷu tay, khớp cổ chân).
            Tính chất: Sưng nóng đỏ đau, khớp lớn, không hoặc ít đối xứng.
            Di chuyển từ khớp này sang khớp khác, khi chuyển sang khớp mới khớp cũ hết đau, không để lại di chứng tại khớp.
            Có thể có viêm màng ngoài tim, màng trong tim, viêm cơ tim.
            Dấu hiệu toàn thân: Sốt, viêm họng, mệt mỏi, xanh xao, múa vờn, suy tim.
            Điều trị: Bệnh phải được chẩn đoán xác định sớm để có điều trị chống liên cầu tan huyết nhóm A ở họng, phòng thấp, ngừa tái phát, ngăn ngừa các tổn thương vĩnh viễn ở tim, van tim của trẻ.
            Điều trị phòng thấp phải liên tục, đều đặn, đủ thời gian, đủ liều lượng.
7. Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erithematosus - SLE)
            Là bệnh nặng, thuộc nhóm các bệnh của tổ chức liên kết.
            Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,02 - 0,1 % dân số người lớn (nghĩa là cứ 1.000 - 5.000 người lớn mới có một người bị bệnh, chỉ chiếm 1/30 - 1/5 số bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.
            Đại đa số là õ (90%). Bệnh bắt đầu mắc ở lứa tuổi trẻ (20 - 40), 55% dưới 30 tuổi.
            Khởi bệnh: Có thể là cấp tính hoặc bán cấp, cũng có thể từ từ tăng dần, sốt dai dẳng.
            Vị trí bắt đầu thường không rõ ràng, ở nhiều khớp, ở toàn thân.
            Tính chất: Cứng khớp buổi sáng nhẹ và ngắn.
            Đau nhức, nhức mỏi là chính.
            Đối xứng, ít gây biến dạng khớp.
            Dấu hiệu toàn thân: Sốt kéo dài, xanh xao, ban cánh bướm ở mặt, mệt, khó thở, phù, xạm da, rụng tóc, loét miệng, rối loạn kinh nguyệt, viêm mạch máu.
            Điều trị: Đây là bệnh toàn thân khá nặng, các điều trị hiện nay đều nhằm kéo dài thời gian lui bệnh, điều trị triệu chứng và điều trị biến chứng ở tim, thận, phổi, thần kinh trung ương (nếu có) của bệnh.
Tiên lượng của bệnh rất dè dặt, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ, tổn thương nhiều cơ quan (tim, thận, thần kinh trung ương.). Bệnh thường bột phát, nặng lên trong thời kỳ thai nghén, sinh đẻ và cho con bú.
8. Các bệnh viêm khớp do vi khuẩn gồm lao và vi khuẩn (tụ cầu, lậu cầu. )
            Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn trực tiếp.
            Vi khuẩn có thể vào khớp theo các đường chính: ngoài da, đường niệu, và đường máu.
            Trực khuẩn lao vào khớp hoặc cột sống (sụn khớp hoặc đĩa đệm) qua đường máu, sau nhiễm lao đặc biệt là lao phổi.
            Có thể gặp ở cả hai giới, mọi tuổi, đặc biệt trẻ em, người giàvà những người suy giảm sức đề kháng, suy giảm miễn dịch.
            Khởi bệnh thường là cấp tính (nếu do vi khuẩn) hoặc bán cấp (nếu do lao).
            Vị trí bắt đầu thường ở một khớp, khớp lớn (khớp gối, khớp háng, cột sống).
            Tính chất: Không cứng khớp buổi sáng.
            Sưng nóng đỏ đau một khớp, cố định. Không đối xứng.
            Dấu hiệu toàn thân: Sốt cao, dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân và tại chỗ.
            Có đường vào của vi khuẩn (ngoài da, đường niệu và đường máu.)
            Sốt về chiều, có dấu hiệu nhiễm lao, có nguồn lây bệnh.
            Điều trị: Thuốc kháng sinh đặc hiệu theo mầm bệnh (nếu viêm khớp do vi khuẩn).
            Thuốc kháng lao theo các phác đồ điều trị lao hiện hành (nếu lao khớp).
            Điều trị tại chỗ, bất động trong giai đoạn viêm cấp.
            Tập vận động, phục hồi chức năng sớm để tránh cứng khớp, teo cơ.
            Tiên lượng tốt, có thể chữa khỏi nếu điều trị đúng, đủ và sớm.
KẾT LUẬN
            Với hoàn cảnh và trang bị kỹ thuật hiện đại, các bệnh khớp thường gặp nêu trên có thể được xác định sớm bởi các thầy thuốc chuyên khoa ở các cơ sở y tế. Rất mong các thầy thuốc và người bệnh quan tâm hơn nữa tới việc xác định chuẩn đoán sớm các bệnh thấp khớp để việc điều trị đạt kết quả cao nhất, hạn chế các tác dụng bất lợi không đáng có của việc điều trị triệu chứng đơn thuần kéo dài, bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho một số rất lớn bệnh nhân là góp phần làm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình và cho toàn xã hội.

Phát hiện biến dạng bàn chân ở trẻ


Phát hiện biến dạng bàn chân ở trẻ  

Ngoài nguyên nhân bại não và các tai biến sản khoa, trẻ có thể bị biến dạng bàn chân do di truyền hoặc tư thế khi còn nằm trong bào thai. Các dị tật ở cột sống, háng và gối cũng làm thay đổi hình thái và cấu tạo của bàn chân.

Các biến dạng thường gặp là bàn chân dẹt hoặc vòm quá, vẹo vào trong hoặc ra ngoài, gấp áp sát cẳng chân. Ngoài ra còn có bàn chân giống hình thuổng, thẳng như chân ngựa do gân gót bị co không thể gấp cổ chân lên được hoặc bàn chân vẹo vào trong, gan chân và gót ngửa lên trời.
Khi mới sinh con, người mẹ cần kiểm tra bàn chân của trẻ, nếu có nghi ngờ thì dùng lông bàn chải mềm kích thích da chân để xem trẻ cử động bất thường không. Trường hợp khó xác định thì cần đi khám ngay.
Nếu biến dạng ngày càng rõ hơn sau ngày sinh, có thể xoa tay sạch bằng phấn rôm rồi uốn nhẹ nhàng chân bị biến dạng của trẻ, đưa về hình thái bình thường. Phần lớn trẻ sơ sinh có biến dạng được uốn nhẹ nhàng, kiên trì, liên tục sẽ dần trở lại bình thường. Tuy nhiên, với những biến dạng khó nắn chỉnh, cần đưa trẻ đi khám tri giác, cột sống, háng, gối, xương cổ chân, bao khớp, gân... để xem có bị xô lệch trật khớp không.
Trẻ trên 1 tuổi nếu còn di chứng thì cần can thiệp bằng phẫu thuật phần mềm như bao khớp, dây chằng mà không vào xương. Các thủ thuật ở xương chỉ được tiến hành sau tuổi dậy thì (nữ 13, nam 14-15 tuổi).
Bác sĩ Dương Đức BínhSức Khỏe & Đời Sống

Phát hiện hội chứng Down khi thai nhi chỉ mới từ 11 đến gần 14 tuần


Phát hiện hội chứng Down khi thai nhi chỉ mới từ 11 đến gần 14 tuần

Hội chứng Down- một dạng chậm phát triển tâm thần khiến cho bệnh nhân trở nên khù khờ và hầu như không có khả năng học hành- là rối loạn di truyền thường gặp nhất trong các trẻ sơ sinh còn sống và cũng chính là loại rối loạn dễ bị bỏ sót nhất trên siêu âm.

Đây là hội chứng không thể chữa khỏi được, gây một gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội. Với sự phát triển của y học ngày nay, chúng ta có thể phát hiện được đến 90% các trường hợp hội chứng Down từ khi đứa trẻ chỉ mới được 11 đến 13 tuần 6 ngày trong bụng mẹ.
Nguy cơ trẻ mắc hội chứng Down gia tăng theo tuổi mẹ. Do đó, từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, một số nước phát triển đã áp dụng biện pháp tầm soát hội chứng Down dựa trên yếu tố tuổi mẹ. Tất cả những sản phụ  trên 35 tuổi đều được tham vấn để chọc ối (hút nước ối  qua thành bụng để kiểm tra bộ nhiễm sắc thể của thai nhi, từ đó chẩn đoán hội chứng Down). Tuy nhiên, tỷ lệ hội chứng Down được phát hiện chỉ gần 30%. Có nghĩa là trong 10 trẻ Down, chỉ có 3 trẻ được phát hiện trước sanh để chấm dứt thai kỳ và 7 trẻ còn lại bị bỏ sót.

Da gáy bình thường

Đến thập niên 80, việc tầm soát hội chứng Down dựa trên sự phối hợp tuổi mẹ và xét nghiệm các dấu ấn sinh học thai trong máu mẹ (AFP, HCG và UE3) khi thai 16-18 tuần để kiểm tra nguy cơ mắc hội chứng Down ở đứa trẻ trước khi thai phụ được tham vấn có nên chọc ối hay không. Cũng xin nói thêm rằng chọc ối có thể làm gia tăng một số nguy cơ đối với thai nhi, chẳng hạn như sinh non hoặc sẩy thai. Phương pháp này giúp phát hiện khoảng 60% hội chứng Down. Điều này có nghĩa nếu làm xét nghiệm sinh hóa sàng lọc hội chứng Down cho tất cả sản phụ có thai trong giai đoạn 16-18 tuần thì cũng chỉ có 6 trong 10 trẻ Down được phát hiện trước sanh.
Đến thập niên 90, giới chuyên môn ghi nhận có sự liên quan giữa độ mờ da gáy dày ở bào thai và hội chứng Down. Độ mờ da gáy càng dày thì nguy cơ hội chứng Down càng tăng. Cần nhớ rằng, dấu hiệu này chỉ xuất hiện trong một giai đoạn từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày. Sau 14 tuần, da gáy sẽ trở về bình thường và điều này không có nghĩa là thai bình thường. Sàng lọc hội chứng Down dựa trên tuổi mẹ phối hợp với đo độ mờ da gáy thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày sẽ giúp phát hiện gần 80% hội chứng DOWN. Cần lưu ý, nếu da gáy dày nhưng nhiễm sắc thể bình thường (trẻ không bị hội chứng Down), thì trẻ vẫn có nguy cơ cao bị dị tật tim thai. Nếu độ mờ da gáy >3.5mm, khoảng 1/3 trường hợp sẽ có bất thường nhiễm sắc thể.  Trong 2/3 các trường hợp còn lại sẽ có 1/16 trường hợp có dị tật tim (Thống kê của Viện Y khoa thai nhi, đặt ở London- Anh Quốc). Do đó, khi thai có da gáy dày và nhiễm sắc thể bình thường thì vẫn cần được một chuyên gia về tim thai siêu âm lúc 22 tuần.
Hiện nay, việc sàng lọc hội chứng Down dựa trên sự phối hợp giữa yếu tố tuổi mẹ, siêu âm đo độ mờ da gáy và xét nghiệm các dấu ấn sinh học thai (PAPP-A, free beta HCG) trong máu mẹ ở tuổi thai 11 tuần -13 tuần 6 ngày. Tất cả các yếu tố này sẽ được một phần mềm chuyên dụng tính toán phối hợp lại, đưa ra một nguy cơ cuối cùng về  khả năng sanh con Down của sản phụ là bao nhiêu. Nếu nguy cơ cao, sản phụ sẽ được tham vấn chọc ối. Phương pháp này giúp phát hiện 90% hội chứng Down. Như vậy, trong 10 trẻ Down, chỉ có một trẻ bị bỏ sót.


Mới đây, Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM) đã phối hợp với Hiệp hội siêu âm Úc (ASUM) và Tổ chức y học thai nhi (FMF) ở London mở lớp tập huấn siêu âm đo độ mờ da gáy và kỹ thuật sinh thiết gai nhau (lấy mẫu nhau của thai nhi để kiểm tra bộ nhiễm sắc thể) để tầm soát và chẩn đoán hội chứng Down giai đoạn sớm: từ 11 -13 tuần 6 ngày. Khoảng 140 học viên từ 32 tỉnh thành phía Nam đã về tham dự. Bệnh viện Từ Dũ là nơi đầu tiên trong cả nước được chính thức công nhận đủ khả năng đo độ mờ da gáy và được sử dụng phần mềm chuyên dụng tính nguy cơ hội chứng DOWN từ FMF London dựa trên sự phối hợp yếu tố tuổi mẹ, bề dày độ mờ da gáy và xét nghiệm sinh hóa máu mẹ ở tuổi thai 11 đến 13 tuần 6 ngày.
Như vậy, để tầm soát tốt nhất hội chứng DOWN, thai phụ cần siêu âm đo độ mờ da gáy và xét nghiệm sinh hóa sàng lọc giai đoạn 11 tuần -13 tuần 6 ngày. Phần mềm của FMF sẽ giúp tính ra nguy cơ hội chứng DOWN. Nếu có nguy cơ cao ( >1/300),  sản phụ sẽ được tham vấn sinh thiết gai nhau hoặc chọc ối để chẩn đoán xác định.
                                                                                                    Bác sĩ Hà Tố Nguyên(Trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ)

Dị tật không hậu môn ở trẻ


Dị tật không hậu môn ở trẻ

Dị tật này xảy ra ở 1/5.000 trẻ sơ sinh. Khoa học chưa xác định được nguyên nhân, chỉ biết nó liên quan đến một số yếu tố như mẹ nhiễm virus, tiếp xúc với tia phóng xạ hoặc dùng thuốc trong thời kỳ thai nghén.

Dị tật không hậu môn được phân làm 2 loại cao và thấp, cách điều trị cũng khác nhau. Thể thấp gặp trong 90% trường hợp, trẻ sinh ra không hậu môn nhưng có một đường rò nhỏ xì phân ra dưới da, đổ ra bìu (trẻ trai) hoặc phía ngoài bộ phận sinh dục (trẻ gái). Trong trường hợp này, bé có thể được phẫu thuật làm ngay hậu môn thật. Chức năng hoạt động của hậu môn thường tốt, trẻ có thể tự đi cầu bình thường.
Ở thể cao, trẻ sinh ra hoàn toàn không có vết tích của hậu môn, không có đường rò phân dưới da, hoặc nếu có thì phân cũng đổ vào đường tiểu hoặc đường sinh dục ở trên cao (như âm đạo, niệu đạo hoặc cổ bàng quang). Ở một số trẻ gái, trực tràng, bộ phận sinh dục và đường tiểu cùng đổ chung vào một lỗ (chuyên môn gọi là tồn tại ổ nhớp). Trường hợp này, trẻ sơ sinh sẽ được làm hậu môn tạm và đi tiêu bằng một lỗ trên thành bụng. Sau vài tháng, bác sĩ sẽ tiến hành làm hậu môn thật phía dưới. Hậu môn này được nong dần cho đến khi đạt được kích thước bình thường. Khi ấy, trẻ sẽ được phẫu thuật đóng hậu môn tạm trên thành bụng và đi cầu bên dưới như trẻ bình thường.
Việc điều trị dị tật không hậu môn cần được tiến hành sớm để trẻ có thể đi cầu bình thường, đồng thời tránh những tổn thương tâm lý khi trẻ đã hiểu biết.
ThS Trương Quang ĐịnhNgười Lao Động

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC EM BÉ SINH RA TỪ KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM


SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC EM BÉ SINH RA TỪ KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

Tác giả : BS. HỒ MẠNH TƯỜNG (BV. Phụ sản Từ Dũ)

Trên thế giới, kể từ khi chương trình thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) bắt đầu, đã có rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe và sự phát triển của những bé sinh ra từ các kỹ thuật này. Ða số những nghiên cứu đều cho thấy các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON và các kỹ thuật tương đương có tỷ lệ dị tật bẩm sinh và sự phát triển tâm lý không khác biệt so với trẻ bình thường.

Riêng tại Việt Nam, chương trình TTTON được tiến hành khoảng gần 6 năm và những em bé đầu tiên đã trên 5 tuổi. Theo thống kê tại BV. Phụ sản Từ Dũ, tính đến tháng 11/2003, số trẻ ra đời từ chương trình TTTON của bệnh viện là gần 1.100. Trong những năm qua, BV. Phụ sản Từ Dũ đã có nhiều chương trình theo dõi sức khỏe và sự phát triển của các cháu một cách liên tục.

MỘT CUỘC KHẢO SÁT QUY MÔ

Nhằm có một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của các em bé sinh ra từ TTTON và những kỹ thuật liên quan tại Việt Nam, bệnh viện đã thực hiện một cuộc khảo sát khá quy mô. Tất cả các em bé được sinh ra từ những kỹ thuật TTTON cổ điển, ICSI hoặc xin trứng (đã ít nhất 12 tháng tuổi cho đến thời điểm nghiên cứu) đều được mời tham gia bằng cách gửi thư và điện thoại xác nhận. Sau đó hẹn ngày đến khám tại BV. Phụ sản Từ Dũ.
Các số liệu về điều trị TTTON, thai kỳ và kết quả sinh được ghi nhận qua hồ sơ bệnh án hoặc hỏi trực tiếp bệnh nhân, do khoa Hiếm muộn BV. Phụ sản Từ Dũ ghi nhận. Việc khám, đánh giá sức khỏe và tình trạng phát triển thể chất của nhóm bé do các bác sĩ chuyên khoa Nhi thực hiện. Việc đánh giá sự phát triển về tâm thần và vận động của các bé do các bác sĩ chuyên khoa tâm lý trẻ em của BV. Tâm thần TPHCM đảm nhiệm. Bảng đánh giá Denver dùng tầm soát các bất thường về phát triển tâm lý vận động trẻ em của BV. Tâm thần TPHCM được sử dụng để tầm soát các bất thường của bé đến khám.
Quá trình khám, thu thập số liệu kéo dài liên tục gần 3 tháng, với sự tham gia của gần 30 bác sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng và nhân viên hậu cần. Mỗi buổi khám có từ 15-20 bé do 2 bác sĩ nhi khoa, 6-8 bác sĩ chuyên khoa tâm lý trẻ em, 6 nữ hộ sinh khám và ghi nhận, nhằm đảm bảo cho việc khám được chi tiết và chính xác.
Ðặc điểm chung của các bé
Ðến thời điểm giữa năm 2002, gần 300 bé sinh ra từ các biện pháp hỗ trợ sinh sản đã được trên 1 tuổi (dao động từ 12 tháng đến 55 tháng). Bệnh viện đã liên hệ với 281 bé của 189 bà mẹ và mời tham gia nghiên cứu. Sau đó có 221 bé của 145 bà mẹ đồng ý đến bệnh viện để khám, đạt tỷ lệ gần 80%. Trong đó, bao gồm các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON cổ điển (130 bé), ICSI (49 bé) và cho trứng (42 bé), có cả các trường hợp sinh 1, sinh 2, sinh 3 và sinh 4. Ðây là một tỷ lệ khá cao so với các báo cáo trên thế giới.
Về tình trạng dinh dưỡng
Khảo sát về tình trạng dinh dưỡng được dựa trên các số đo về chiều cao, cân nặng và vòng đầu. Sau đó đem đối chứng với số liệu về sự phát triển trung bình của trẻ em Việt Nam theo lứa tuổi. Trong 221 bé được khảo sát, có 5 bé thừa cân, 216 bé bình thường, không có bé nào suy dinh dưỡng.
Với đặc điểm mẫu khảo sát gồm nhiều bé sinh từ các chu kỳ đa thai (sinh 2, 3, 4), sự phát triển về thể chất của các cháu đều nằm trong giới hạn bình thường. Ðiều này cho thấy, hầu hết các cháu được chăm sóc khá kỹ về dinh dưỡng, cho nên mặc dù có thể nhẹ cân lúc sinh nhưng trong vòng 1 năm trở lên, các cháu đã có thể bắt kịp những trẻ bình thường về mặt thể chất.
Về dị tật bẩm sinh và bất thường khác về sức khỏe
Các bé được bác sĩ nhi khoa khám và đánh giá về những dị tật bẩm sinh và bất thường của các hệ cơ quan trong cơ thể như: hệ tim mạch, hô hấp, tai mũi họng, răng hàm mặt, cơ xương, khớp, sinh dục - tiết niệu, da.
Về tình trạng sức khỏe nói chung, các cháu đến khám đều ở tình trạng tốt về sức khỏe. Chúng tôi không ghi nhận một vấn đề đặc biệt nào về sức khỏe và bệnh lý ở các cháu. Tỷ lệ dị tật bẩm sinh là 1% (1 trường hợp trật khớp háng và 1 trường hợp dính bàn tay). Nhưng những dị tật này đều là nhẹ và chiếm tỷ lệ khá thấp so với dân số bình thường.
Sự phát triển về tâm lý và vận động theo thang đánh giá Denver
Ðể đánh giá sự phát triển bất thường về tâm lý vận động, test Denver được dùng để đánh giá 4 mặt phát triển sau ở mỗi bé: (1) Cá nhân - xã hội, (2) Ngôn ngữ, (3) Vận động tinh tế, (4) Vận động thô sơ.
Chúng tôi chưa thể đối chứng kết quả ghi nhận được về tỷ lệ chậm phát triển tâm lý vận động so với trẻ em cùng lứa tuổi ở Việt Nam hiện nay, do các bé khảo sát ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, khi sử dụng thang điểm Denver để đánh giá, các chuyên gia tâm lý tại BV. Tâm thần TPHCM cho rằng: Tỷ lệ chậm phát triển tâm thần vận động ở các trẻ sinh 1 và sinh 2 được xem là ở mức bình thường. Tỷ lệ chậm phát triển tâm lý, vận động có vẻ cao hơn ở nhóm sinh 3 và sinh 4. Ðiều này cũng được ghi nhận ở nhiều nghiên cứu khác trên thế giới.

KẾT LUẬN

Nhìn chung, các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON và những kỹ thuật tương đương tại BV. Phụ sản Từ Dũ phát triển bình thường về thể chất, tâm lý và vận động. Không có khác biệt về sự phát triển giữa các trẻ sinh ra từ những kỹ thuật khác nhau. Tuy nhiên cần tiếp tục theo dõi sự phát triển của các cháu trong thời gian tới để có những đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn.
Các bé sinh ra trong những trường hợp sinh 3 và sinh 4 có khuynh hướng phát triển chậm hơn các trường hợp sinh 1 và sinh 2. Do đó, để các cháu phát triển tốt, cần có biện pháp giảm tỷ lệ đa thai trong điều trị vô sinh. Hiện nay, với việc áp dụng thành công và đồng bộ nhiều phác đồ và kỹ thuật mới như: giảm số phôi chuyển ở những trường hợp tiên lượng tốt, trữ lạnh phôi dư, kỹ thuật giảm thai; BV. Phụ sản Từ Dũ đã gần như kiểm soát được hoàn toàn tình trạng đa thai (từ 3 thai trở lên). Với gần 300 em bé TTTON ra đời trong năm 2003, chúng tôi chỉ có 1 trong 3 trường hợp sinh 3.
Việc khảo sát sự phát triển của các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON thể hiện thái độ nghiêm túc và khoa học của Việt Nam trong việc phát triển các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Ðây sẽ là nền tảng, làm cơ sở cho sự phát triển về lĩnh vực này tại Việt Nam trong tương lai.
Trên thế giới hiện nay, hàng năm có khoảng 500.000 chu kỳ TTTON và các kỹ thuật tương đương được thực hiện và tổng số bé TTTON ra đời đã trên 1 triệu bé (ước tính trung bình trên 100.000 bé/năm). Ở các nước phát triển, số bé ra đời từ kỹ thuật TTTON chiếm gần 5% tổng số em bé ra đời mỗi năm. Do đó, các em bé TTTON ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong cộng đồng.

Vì sao trẻ bị mập mờ về giới tính?


Vì sao trẻ bị mập mờ về giới tính?

Nhiễm sắc đồ của một bé trai bình thường.

Nhiều đứa trẻ sinh ra có dương vật quá bé hoặc cơ quan sinh dục ngoài không rõ ràng (ái nam ái nữ) mặc dù xét về nhiễm sắc thể, đó là em bé trai. Nguyên nhân có thể là bất thường về hoóc môn hoặc nhiễm sắc thể.

Thông thường, những trẻ có nhiễm sắc đồ là 46, XX khi sinh ra sẽ là con gái; trẻ có nhiễm sắc đồ 46, XY sẽ là con trai. Nhưng đôi khi, do những trục trặc trong tiến trình biệt hóa giới (diễn ra trong 6-7 tuần lễ đầu của thai kỳ) nên trẻ 46, XY có cơ quan sinh dục không ra nữ, không ra nam. Có nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng này.
Hội chứng không nhạy cảm bộ phận với androgen: Hội chứng này ảnh hưởng đến những cá thể có nhiễm sắc đồ 46, XY, khiến trẻ sinh ra có cơ quan sinh dục ngoài lớn hơn âm vật nhưng nhỏ hơn dương vật, có thể có dính một phần môi lớn/bìu. Nguyên nhân là có những bộ phận không đáp ứng với androgen. Hai tinh hoàn có thể không di chuyển xuống bìu, lỗ niệu đạo lạc chỗ đến tầng sinh môn. Ở tuổi dậy thì, bệnh nhân có vú phát triển kiểu nữ cùng với lông mọc thưa ở mu và nách.
Nếu mắc hội chứng không nhạy cảm hoàn toàn với androgen, những cá thể có nhiễm sắc đồ 46, XY sẽ phát triển cơ quan sinh dục ngoài kiểu nữ, mặc dù vẫn có tinh hoàn trong ổ bụng.

Loạn sản không hoàn toàn tuyến sinh dục: Đặc trưng của bệnh này là sự biệt hóa không hoàn toàn tinh hoàn nên thường có cơ quan sinh dục ngoài không rõ ràng khi sinh ra. Ở những bệnh nhân bị loạn sản tuyến sinh dục hoàn toàn, cơ quan sinh dục ngoài lại phát triển theo kiểu nữ do lượng androgen không đủ để nam tính hóa các mầm mống sinh dục.

Thiếu hụt enzym 5-reductase: Khi thai phát triển, các tuyến sinh dục biệt hóa để thành tinh hoàn bình thường. Tuy nhiên, những cá thể thiếu enzym 5-reductase không thể chuyển testosterone thành dihydrotestosterone (DHT) - một chất cần thiết để cơ quan sinh dục ngoài được nam tính hóa bình thường. Kết quả là trẻ ra đời với tinh hoàn hoạt động nhưng dương vật bé giống như một âm vật và bìu giống như môi lớn.
Đến tuổi dậy thì, bệnh nhân cũng có cơ bắp phát triển, giọng nói trầm, dương vật to ra (mặc dầu khó có thể đạt được chiều dài bình thường); có sản xuất tinh trùng nếu tinh hoàn không bị tổn thương. Lông mọc khá nhiều ở mu và nách nhưng không có hoặc ít râu.
Thiếu sót trong sự tổng hợp testosterone: Testosterone được tạo ra từ cholesterol qua nhiều bước chuyển tiếp sinh hóa. Ở một số cá thế, một trong những enzym cần cho sự chuyển tiếp nói trên bị thiếu nên không thể tạo ra lượng testosterone bình thường, mặc dù vẫn có tinh hoàn. Việc thiếu hoàn toàn sự tổng hợp testosterone ở những cá thể 46, XY sẽ sinh ra những trẻ có cơ quan sinh dục hoàn toàn kiểu nữ. Còn tình trạng thiếu không hoàn toàn sẽ khiến cơ quan sinh dục của trẻ bị mập mờ.

Thiếu androgen: Hoóc môn này rất cần thiết ở 2 thời điểm phát triển của thai, đảm bảo sự tạo thành một dương vật bình thường. Ở giai đoạn sớm, nó giúp nam tính hóa các mầm mống bài thai, chuẩn bị chuyển thành dương vật và bìu. Ở giai đoạn muộn, nó làm cho dương vật to ra. Nếu thai nhi có bài tiết androgen ở giai đoạn sớm nhưng về sau lại bài tiết ít thì dương vật không phát triển được về kích thước. Trẻ vẫn là con trai thực sự và có 2 tinh hoàn.
Đến tuổi dậy thì, nếu được điều trị bằng testosterone thì có thể làm cho dương vật to ra, tuy khó đạt được kích thước bình thường.

Thiếu sót về thời điểm biệt hóa: Tiến trình biệt hóa nếu không diễn ra đúng thời điểm sẽ gây trở ngại đến sự phát triển bình thường của cơ quan sinh dục ngoài. Nếu biệt hóa chậm vài tuần, trẻ sinh ra có thể bị mập mờ về cơ quan sinh dục ngoài.

Quá sản bẩm sinh tuyến thượng thận: Trong trường hợp này, androgen nguồn gốc thượng thận quá nhiều, dẫn đến sự không rõ ràng ở cơ quan sinh dục ngoài; trẻ có âm vật to và môi lớn dính nhau trông giống như bìu, mặc dù vẫn có nhiễm sắc đồ 46, XY. 
Có nhiễm sắc đồ hình khảm 45, XO/46, XY: Hình khảm nghĩa là có 2 hay hơn 2 nhiễm sắc thể ảnh hưởng đến sự phát triển của cá thể. Hình khảm 45, XO/46, XY thể hiện bệnh cảnh pha trộn liên quan đến nhiễm sắc thể Y, với sự biệt hóa giới không rõ ràng. Một phần tinh hoàn đã biệt hóa, có androgen bài tiết ở mức độ nhất định, cơ quan sinh dục ngoài không rõ ràng. Trẻ có thể sinh ra với bề ngoài là nam, nữ hay không rõ ràng. Đến tuổi dậy thì, nếu được điều trị bằng liệu pháp estrogen thì trẻ sẽ nữ hóa, điều trị bằng testosterone thì nam hóa.
Hội chứng Kinfelter: Xảy ra ở những người có nhiễm sắc đồ 47, XXY. Đến tuổi dậy thì, bệnh nhân có vú phát triển kiểu nữ, bài tiết androgen ít, tinh hoàn bé và tinh trùng ít. Mặc dù bệnh nhân có sự biệt hóa bình thường ở cơ quan sinh dục ngoài nhưng dương vật thường bé hơn so với người bình thường.
BS Đào Xuân DũngSức Khỏe & Đời Sống

Trẻ sinh trước 37 tuần dễ bị vàng da


Trẻ sinh trước 37 tuần dễ bị vàng da

Trẻ sinh thiếu 1-2 tuần cần được chăm sóc đặc biệt. 

Mặc dù ra đời sớm hơn chỉ 1-2 tuần, song trẻ vẫn có sức đề kháng yếu hơn so với những bé đủ 37 tuần tuổi. Những trường hợp sinh non khi mới được 35 hoặc 36 tuần dễ bị vàng da và giảm glucose huyết hơn.

Một nhóm chuyên gia đến từ Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Mỹ, đã so sánh tình trạng sức khỏe của khoảng 90 trẻ sinh đủ tháng (từ 37 tuần trở lên) với một số tương đương ra đời sớm hơn 1 tới 2 tuần tuổi. Kết quả cho thấy, nhóm trẻ sinh "hơi non" gặp nhiều vấn đề về sức khỏe hơn. 18 bé mắc đa bệnh, trong khi không có trường hợp đủ tháng nào bị nhiều hơn 1 bệnh. Số trẻ sinh non bị chứng giảm glucose huyết nhiều gấp 3 lần nhóm đủ tháng. Hơn một nửa trẻ thiếu tháng bị vàng da, trong khi chỉ có 37,9% trẻ đủ tháng mắc bệnh. Ngoài ra, trẻ sinh kém tuần còn dễ bị rối loạn hô hấp, khó giữ thân nhiệt và cần được điều trị bằng nhiều biện pháp khác nhau tốn kém hơn.
"Quan niệm trước đây rằng trẻ sinh gần đủ tháng vẫn có sức khỏe như những trường hợp đúng tuổi là hoàn toàn sai lầm. Thực tế là các em có sức đề kháng kém hơn, dễ bị vàng da và giảm glucose huyết hơn", trưởng nhóm nghiên cứu Marvin Wang cho biết. Nguyên nhân ra đời sớm hơn khoảng 1,2 tuần có thể liên quan đến những biến chứng thai kỳ như mẹ bị vỡ nút nhầy, bị viêm nhiễm, có quá nhiều nước ối hoặc bào thai bị hạn chế sức phát triển.
Tuy nhiên, đôi khi việc sinh non 1, 2 tuần là cần thiết vì một số lý do sức khỏe. Trong trường hợp này, các bà mẹ cũng không nên quá lo lắng vì phần lớn bé sẽ vượt qua những ngày đầu khó khăn nhờ các phương pháp chăm sóc hiện đại.
 (theo BBC)

Trẻ em lớn lên trong giấc ngủ


Trẻ em lớn lên trong giấc ngủ

Quan niệm lâu nay cho rằng trẻ cao lên qua đêm có lẽ là thật. Các nhà nghiên cứu tại trường thú y, Đại học Wisconsin ở Madison, Mỹ đã cài bộ cảm biến lên xương chân của những con cừu non để theo dõi sự tăng trưởng xương của chúng.

Kết quả cho thấy, 90% xương mọc ra khi những con vật đang ngủ, nói cách khác là lúc đang nghỉ ngơi.
"Chúng tôi quan sát mô hình tăng trưởng không liên tục này, nhưng điều thực sự thú vị là xương chỉ mọc thêm khi các con vật nằm xuống, và hầu nhưng không có sự tăng trưởng khi lũ cừu đứng hoặc đi lại", tác giả của nghiên cứu, Norman Wilsman nói.
Wilsman giả thích đó là do các đĩa tăng trưởng (bao gồm những mảnh sụn mềm ở chỏm xương) bị nén lại khi con vật đứng hoặc đi lại, ngăn cản việc phát triển. Khi cừu nằm xuống, áp lực đè lên các đĩa tăng trưởng mất đi, và xương mọc dài ra.
Một thành viên của nhóm, Kenneth Noonan, cho biết: "Nghiên cứu này chỉ ra rằng tăng trưởng không phải là quá trình liên tục, có những bước nhảy đột ngột xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của cừu và có thể điều đó cũng diễn ra trên người".
(theo Reuters)

Trẻ có lợi khi sớm tiếp xúc với vật nuôi


Trẻ có lợi khi sớm tiếp xúc với vật nuôi

Không ít người cho rằng trẻ sớm tiếp xúc với vật nuôi như chó, mèo dễ mắc hen suyễn và các bệnh dị ứng. Song một nghiên cứu mới đây trên gần 2.500 trẻ ở Thụy Điển cho thấy, những em thường chơi với vật cưng có khả năng miễn dịch tốt hơn.

Sau 4 năm nghiên cứu, nhóm chuyên gia nhận thấy, nồng độ IGE - chỉ tiêu xác định lượng globulin miễn dịch - ở những trẻ thường xuyên quấn quýt với động vật cao, do đó khả năng kháng bệnh tốt. Trong khi đó, những em không gần gũi với vật nuôi có tới 80% nguy cơ mắc bệnh. Cũng theo nghiên cứu, một trong những yếu tố quan trọng là việc trẻ sớm được tiếp xúc với những vi sinh vật có nhiều trong chó mèo, giúp các em mau chóng thích nghi với môi trường hơn.
(theo HealthDay)

Trẻ chăm chạy nhảy sẽ bị loãng xương muộn hơn


Trẻ chăm chạy nhảy sẽ bị loãng xương muộn hơn

Các bé gái thường xuyên vận động chạy nhảy sẽ bị loãng xương muộn hơn so với trẻ bình thường khi trưởng thành, do có bộ xương cứng cáp hơn. Các nhà khoa học Anh vừa công bố phát hiện này hôm nay, sau khi tiến hành nghiên cứu trên 80 bé gái trong vòng 2 năm.

Nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Nhi và Đại học Columbia (Anh) tiến hành. Trong số 80 bé gái, 34 em được theo một chế độ luyện tập đặc biệt, đều đặn trong các tiết giáo dục thể chất. Những vận động chủ yếu là nhảy cao tại chỗ, nhảy bật sàn, nhảy xa, nhảy sang 2 bên, kết hợp với chạy. Cường độ của vận động tăng dần. 46 em còn lại không tham gia loại hình tập luyện nào.
Kết quả cho thấy, những em hoạt động theo chế độ trên 3 lần/tuần trong suốt thời gian đi học có khả năng hấp thu khoáng chất bổ sung cho xương tốt hơn 5% so với trẻ không luyện tập.
Theo đánh giá của giới chuyên môn, chế độ vận động mà nghiên cứu đưa ra là an toàn, hiệu quả và tương đối đơn giản. Nó có thể được đưa vào các tiết giáo dục thể chất ở cấp tiểu học, nhằm tăng cường sự tích luỹ khoáng chất trong xương cho trẻ.
Loãng xương là hiện tượng mất xương, khiến xương trở nên giòn và dễ gãy. Bệnh thường đi kèm với tuổi già và hay gặp ở phụ nữ mãn kinh do khả năng sản sinh hoóc môn sinh dục nữ oestrogen giảm. Vận động thể chất ở mọi hình thức đều là sự kích thích quan trọng cho sự phát triển của bộ xương. Thai nhi hay đạp, hoặc chuyển động trong bào thai cũng giúp cho bộ xương có sự phát triển khởi đầu tốt hơn.
(theo Reuters)

Trò chuyện với con tuổi dậy thì


Trò chuyện với con tuổi dậy thì

Cha mẹ đừng chờ đợi trẻ nêu thắc mắc về những thay đổi đang diễn ra trên cơ thể chúng - ngày đó không bao giờ đến, đặc biệt là nếu trẻ không biết rằng chúng có thể trò chuyện với cha mẹ về tuổi dậy thì.

Đúng lúc

Lý tưởng nhất là cha mẹ khởi xướng cuộc trò chuyện với con về những đổi thay trên cơ thể khi chúng bước vào tuổi dậy thì. Đối với bé gái, cha mẹ bắt buộc phải nói chuyện với con về kinh nguyệt trước khi bé bị hành kinh lần đầu tiên. Nếu không biết điều gì đang xảy ra, bé có thể hoảng sợ. Hầu hết các bé gái có kinh nguyệt lần đầu tiên khi chúng 12-13 tuổi; cá biệt có bé bắt đầu hành kinh lúc lên 8 tuổi hoặc mãi đến khi 16 tuổi. Trong khi đó, thông thường, các bé trai bắt đầu bước vào tuổi dậy thì trễ hơn bé gái một ít.
Ngoài ra, các bé gái cần biết về những thay đổi của con trai và các bé trai cũng cần biết con gái bị ảnh hưởng bởi những đổi thay nào. Nhà trường hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hiểu biết của trẻ khi chúng bắt đầu lớn, vì thế cha mẹ sẽ là người lấp đầy những chỗ trống kiến thức đó. Chắc hẳn là trẻ có rất nhiều thắc mắc về tuổi dậy thì. Cha mẹ hãy cho chúng thời gian và cơ hội để nêu câu hỏi. Cha mẹ nhất thiết phải trả lời các câu hỏi của trẻ một cách chân thực và cởi mở.

Nói gì

Điều quan trọng khi nói chuyện với trẻ là phải khẳng định với chúng rằng những thay đổi trong giai đoạn này là chuyện bình thường. Bởi trẻ dễ dàng cảm thấy không an toàn khi tuổi dậy thì đem lại cho chúng quá nhiều thay đổi. Chúng cần phải biết rằng mọi người đều trải qua những điều giống như nhau. Chẳng hạn như bất cứ ai cũng đều bị nổi mụn, tâm trạng thay đổi... Đó là một phần của sự phát triển, nhưng có thể là có sự khác biệt về mức độ.
Cha mẹ hãy cho con trẻ biết rằng chúng có thể nói chuyện bất cứ lúc nào về vấn đề này. Chúng ta có thể lúng túng hoặc khó khăn khi gặp những đề tài “nhạy cảm” và lúc đó trẻ cũng có thể ngần ngại khi đến nói chuyện với cha mẹ. Là cha là mẹ, nhiệm vụ của chúng ta là cố bàn bạc về tuổi dậy thì một cách cởi mở với con trẻ.

Trí não trẻ phát triển như thế nào?


Trí não trẻ phát triển như thế nào?

Nên sớm cho trẻ tiếp xúc với các đồ chơi nhiều màu sắc.

Hai ngày tuổi, bé đã nhận biết mặt mẹ mình. Tuy mắt nhìn còn chưa rõ lắm nhưng bé đã ngó nhìn, so sánh và biết phân biệt gương mặt mẹ với những phụ nữ khác.

Khi được ba tháng, em bé có thể nhận ra mẹ từ xa. Bé không những nhớ các nét mà còn nhận ra được các vẻ mặt khác nhau của người mẹ và vì vậy, trong bất kỳ tình huống nào, bé cũng biết ai là mẹ mình.
Trí nhớ của trẻ nhỏ hoạt động rất tốt. Điều này thể hiện rõ khi được người lớn đưa cho những đồ vật để cầm chơi. Nếu đưa cho bé nhiều lần cùng một đồ vật, nó sẽ không chú ý mấy, chứng tỏ bé đã nhận ra đồ vật đó. Nhưng nếu được đưa một đồ vật mới, trẻ sẽ chú ý nhìn lâu hơn như thể so sánh với những thứ mà nó đã biết rồi.
Trẻ đã biết phân biệt các đồ vật từ khi còn nhỏ. Khoảng 3 tháng tuổi, nếu được đưa cho xem những bức ảnh chụp nam giới và sau đó là nữ giới, bé sẽ nhìn bức ảnh phụ nữ lâu hơn, chứng tỏ nó đã biết phân biệt hai giới. Lớn hơn một chút nữa, bé sẽ phân biệt được con chó với con mèo, phân biệt một hình ảnh có ba đồ vật với hình ảnh có bốn đồ vật... Khả năng phân loại này là bước đầu của tư duy trừu tượng.
Trẻ nhỏ cũng biết tìm ra các quy luật. Khi được 6 tháng, bé đã trẻ biết là nếu đẩy một vật gì đó ra mép bàn, vật đó sẽ rơi xuống đất; hoặc một hòn bi đang lăn nếu chạm vào một hòn bi khác đứng yên thì sẽ làm cho nó cũng lăn đi. Trẻ cũng nhận ra là khi nó khóc, mẹ sẽ chạy tới và khi nó cười thì người lớn xung quanh vui thích. Trẻ nhỏ tích lũy dần những điều phát hiện được và so sánh với nhau. Qua đó, tư duy của trẻ sẽ phát triển...
Cha mẹ cần để cho trẻ phát triển theo nhịp độ tự nhiên và chỉ cần khuyến khích đúng mức. Nếu không, trẻ sẽ không hào hứng mấy nữa. Không cần phải cho trẻ quá nhiều đồ chơi vì điều mà trẻ thích nhất là mẹ luôn ở bên, hát cho nó nghe. Mùi của mẹ cũng là mùi trẻ ưa thích nhất.
(Theo Khoa Học & Công Nghệ)

Tiếng khóc giúp trẻ tự ngủ tốt hơn


Tiếng khóc giúp trẻ tự ngủ tốt hơn

Trục trặc về giấc ngủ của con thường dẫn tới mất ngủ ở mẹ.

Đa số cha mẹ đều cảm thấy rất lo lắng khi con khóc đêm và tìm mọi cách để vỗ về bé. Thế nhưng, nghiên cứu mới của Australia cho thấy, việc bỏ qua những lần khóc này sẽ giúp trẻ tạo cho mình kiểu ngủ đêm hợp lý, ít gây phiền nhiễu cho mọi người.

Các bậc phụ huynh thiếu ngủ vì con nhỏ hay khóc đêm chỉ có thể mơ được ngủ một mạch 8 tiếng liền. Đó là nếu họ có đủ thời gian để... mơ. Thông thường, họ luôn bị đánh thức bởi tiếng kêu khóc của đứa trẻ.
Nghiên cứu của Australia nhằm mục đích đánh giá một biện pháp can thiệp gây nhiều tranh cãi là "Tiếng khóc được kiểm soát". Tại Mỹ, kỹ thuật này được gọi là phương pháp Feber, dựa theo tên của chuyên gia về giấc ngủ ở trẻ em Richard Ferber. Nguyên tắc của phương pháp là khi trẻ khóc đêm, cha mẹ không nên can thiệp ngay mà cần đợi một thời gian rồi mới tới an ủi bé. Điều này sẽ giúp trẻ học cách tự ru mình.
Các nhà khoa học tại Bệnh viện Nhi đồng Hoàng gia Melbourne đã chọn một cách ngẫu nhiên 156 người mẹ có con hay khóc đêm. Những đứa trẻ đều nằm ở độ tuổi 6 tháng tới 1 năm, và trục trặc về giấc ngủ được đánh giá là nặng. Các bà mẹ được chia làm hai nhóm:
- Nhóm 1 được học cách kiểm soát tiếng khóc của trẻ và các kỹ năng khác về giấc ngủ.
- Nhóm 2 không được luyện tập.
Kết quả là sau 2 tháng, những trục trặc về giấc ngủ đã được cải thiện nhiều hơn ở nhóm 1 và tình trạng trầm uất của các bà mẹ trong nhóm này cũng giảm 45%.
Theo Tiến sĩ Brett Kuhn, Giám đốc Bệnh viện Ngủ của Đại học Nebraska (Mỹ), đây là biện pháp duy nhất tỏ ra hiệu quả. Tuy nhiên, không phải cha mẹ nào cũng chấp nhận nó vì nhiều người không thể chịu đựng khi thấy con khóc. 
Những người phản đối thì cho rằng phương pháp này sẽ gây lo lắng cho cả cha mẹ và đứa trẻ. Nhưng Tiến sĩ Kuhn nói rằng, phần lớn các bé đều học được cách tự trấn an mình mà không cần tới sự giúp đỡ của cha mẹ trong vòng chưa tới 1 tuần. Ông nói: "Ý tưởng của phương pháp là làm cho trẻ yên tâm rằng có bạn ở bên cạnh, nhưng không gây hứng thú cho trẻ bằng cách vuốt ve, bế rung hay hát ru. Chuyến viếng thăm ban đêm sẽ trở nên tẻ nhạt và bé sẽ hiểu ra rằng không đáng phải mất công vì điều đó. Hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy những đứa trẻ được bỏ cho khóc sẽ bị tổn thương".
Kỹ thuật Feber có thể áp dụng cho những trẻ chưa ngủ yên giấc về đêm khi lên 6 tháng tuổi, và có thể thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của mỗi gia đình.
Kỹ thuật Feber
* Tạo cho bé thói quen đi ngủ đúng giờ.
* Khi bé bắt đầu khóc, hãy đợi 1-2 phút trước khi tới để vỗ về. Đụng chạm và nói chuyện với bé càng ít càng tốt. Đừng bế bé dậy và cũng đừng bật đèn.
* Rời khỏi phòng khi bé thôi khóc. Lần sau, nếu bé lại khóc, hãy đợi 3-4 phút, và lần tiếp theo thì đợi 5-6 phút. Nhớ là không bế bé dậy và không bật đèn.  
* Tiếp tục bài tập này cho tới khi bé ngủ thiếp đi. Một số phụ huynh có thể đợi tối đa 10 phút trước khi bước vào phòng con, nhưng có người có thể đợi được 15 phút và lâu hơn.
 (theo WebMD)

Thở dài có lợi cho bé


Thở dài có lợi cho bé

Thở dài rất tốt cho phổi của bé.

Những tiếng thở dài khe khẽ làm cho trẻ sơ sinh đôi khi đáng yêu hơn đối với cha mẹ. Thế nhưng, ít ai biết rằng chúng còn có tác dụng điều chỉnh nhịp thở và giúp phổi của bé phát triển.

Các nhà khoa học thuộc Bệnh viện University Children (tại Bern, Thuỵ Sĩ và Perth, Australia) cho biết, cứ khoảng 50 đến 100 lần hít thở, một em bé khoẻ mạnh sẽ thở dài một lần. Những nhịp thở sâu này giúp không khí vào sâu nhiều phần của phổi, đặc biệt là khí quản vốn dễ bị xẹp.
Để tìm hiểu sâu hơn, nhóm nghiên cứu đã theo dõi 25 trẻ một tháng tuổi khoẻ mạnh khi các em đang ngủ trong nôi hoặc trong vòng tay cha mẹ. Họ kiểm tra nhịp tim, nồng độ oxy trong máu cũng như các yếu tố khác có liên quan đến quá trình hô hấp.
David Baldwin và cộng sự phát hiện ra rằng thở dài là một cơ chế cải thiện sự điều khiển quá trình hô hấp của hệ thần kinh. Trước mỗi lần thở dài, nhịp hô hấp của trẻ dường như quá đều đều. Tiếng thở dài sẽ giúp tạo ra một sự thay đổi có lợi cho quá trình hô hấp của các em. Trẻ bị ốm và thiếu tháng dường như thở dài thường xuyên hơn những trường hợp khoẻ mạnh. Bằng cách đó, các em có thể liên tục điều chỉnh lại nhịp thở của mình.
Theo nhóm nghiên cứu, có thể dựa vào kiểu hô hấp của trẻ thiếu tháng để xác định những em có nguy cơ gặp phải các vấn đề rối loạn kiểm soát hô hấp, bao gồm cả hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh hay còn gọi là hội chứng chết trên nôi.
 (theo Reuters)

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BÉ 1 TUỔI


SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BÉ 1 TUỔI

Tác giả : BS. NGUYỄN THỊ NGỌC HƯƠNG

Bé tròn 12 tháng tuổi đến 23 tháng 29 ngày được gọi chung là bé 1 tuổi. Ngày nay, nuôi trẻ mau lớn, phát triển tốt là niềm mơ ước của các bậc cha mẹ và cả xã hội. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về sự tăng trưởng và phát triển của bé 1 tuổi, để qua đó có thể quan tâm, chăm sóc con mình một cách tốt nhất.

SỰ TĂNG CÂN CỦA BÉ

Ðể dễ nhớ, chúng ta có thể dựa vào cân nặng lúc sinh của bé: Bé tròn 12 tháng có cân nặng trung bình gấp 3 lần cân nặng lúc sinh (Ví dụ: bé sinh ra có cân nặng trung bình 3-3,5kg, khi tròn 12 tháng nặng 9-10kg là bình thường). Bé tròn 24 tháng có cân nặng gấp 4 lần cân nặng lúc sinh. Nói cách khác với bé 1 tuổi, mỗi tháng tăng trung bình từ 200-300g là bình thường. Trong quá trình phát triển, nếu có một tháng bé không tăng cân thì các bậc phụ huynh cũng đừng quá lo lắng, vì ở lứa tuổi này tốc độ tăng cân thấp hơn lúc dưới 1 tuổi, có tháng bé tăng cân và có tháng bé không tăng cân là điều bình thường. Nhưng nếu liên tục 2, 3 tháng bé không tăng cân, trái lại còn sụt cân thì nên đưa bé đến bác sĩ để được khám và tham vấn dinh dưỡng.
Cân nặng trung bình của bé ở lứa tuổi này


Tháng tuổi


Cân nặng bé trai (kg)


Cân nặng bé gái (kg)





12 tháng



8,1-12,4



7,4-11,6





18



9,1-13,9



8,5-13,1





24



9,9-15,2



9,4-14,5




SỰ TĂNG CHIỀU CAO CỦA BÉ

Bé mới sinh thường có chiều dài từ 48-52cm, khi tròn
12 tháng có chiều dài khoảng 75 cm, và khi tròn 24 tháng bé có chiều
cao trung bình là 85cm (có thể ước đoán chiều cao lúc trưởng thành
bằng 2 lần chiều cao bé đạt được lúc 2 tuổi). Như vậy, chúng ta thấy
trong 2 năm đầu đời, chiều cao của bé tăng rất nhanh. Năm đầu trung
bình tăng tổng cộng khoảng 25cm, năm thứ hai tăng tổng cộng khoảng
10cm. Nếu cha mẹ quan tâm chăm sóc bé tốt trong 2 năm đầu sẽ tạo
được tiền đề tốt cho chiều cao của bé lúc trưởng thành
Chiều cao trung bình của bé ở lứa tuổi này



Tháng tuổi


Chiều cao bé trai (cm)


Chiều cao bé gái (cm)





12 tháng



70,7-81.5



68,6-80





18



76,3-88.5



74,8-87,1





24



80,9-94,4



79,9-93



SỰ PHÁT TRIỂN VỀ RĂNG
Bé bắt đầu mọc răng khi được 6 tháng tuổi, sau đó số răng được tính bằng công thức: Số răng = Số tháng tuổi - 4 (Ví dụ: bé 18 tháng tuổi sẽ có 14 răng). Ðến 24 tháng bé hoàn tất bộ răng sữa 20 cái của mình. Có một số trường hợp bé chậm mọc răng, có thể do suy dinh dưỡng, còi xương; Vì vậy các bậc phụ huynh nên tăng cường phơi nắng vào buổi sáng cho bé (mỗi ngày từ 15-20 phút để cơ thể tổng hợp vitamin D), đồng thời chú ý cho bé uống sữa không dưới 500ml/ngày để cung cấp đủ calci. Chế độ ăn của bé cũng cần phù hợp với số răng, bé chỉ có thể ăn cơm khi đã có răng nhai (răng hàm). Một số bé tuy mọc răng chậm (Có thể là do yếu tố di truyền từ cha mẹ) nhưng vẫn khỏe mạnh, tăng trưởng bình thường so với lứa tuổi.

SỰ PHÁT TRIỂN VẬN ÐỘNG

Khi được 10-12 tháng, bé bắt đầu biết đứng chựng, lên 15 tháng biết đi bộ một mình và bò lên cầu thang. 18 tháng tuổi, bé biết chạy nhưng dáng chạy chưa được uyển chuyển, có thể leo lên cầu thang nếu được người lớn dắt tay, tự ngồi được trên ghế nhỏ và rất thích lục lọi ngăn kéo hoặc giỏ rác. Ðược 24 tháng, bé chạy tốt, lên xuống cầu thang từng bước một, biết nhảy, biết tự leo lên bàn ghế và tự mở cửa.

SỰ PHÁT TRIỂN VỀ NGÔN NGỮ

Bé 15 tháng biết nói líu ríu, gọi "ba", "mẹ" hoặc tên một vật quen thuộc nào đó. Ðến 18 tháng bé nói được trung bình 10 từ, xác định một hoặc nhiều phần của cơ thể. Lên 24 tháng, biết xếp 3 từ lại thành câu. Tuy nhiên, một số bé biết nói và nói sõi rất sớm, một số bé lại rất chậm nói. Tuy nhiên nếu cha mẹ thấy bé phát âm được vài từ, hiểu và làm được hầu hết các yêu cầu của người lớn thì chắc chắn bé sẽ nói được.

SỰ PHÁT TRIỂN VỀ TÂM LÝ VÀ XÃ HỘI

Khi được 15 tháng, bé biết làm theo các mệnh lệnh đơn giản, biết chỉ tay để nói lên đòi hỏi của mình, biết ôm chặt ba hoặc mẹ để bày tỏ sự thương yêu.
Lên 18 tháng bé thích tự ăn một mình hoặc làm một số việc, chỉ tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp rắc rối. Bé có thể giải thích khi bị ướt hoặc bị bẩn và đã biết ôm hôn ba mẹ.
Bé 24 tháng đã cầm muỗng tốt, biết phụ cởi quần áo, biết nói về những điều vừa trải qua và lắng nghe các câu chuyện tranh đơn giản.
Hiểu về quá trình phát triển của bé, cha mẹ sẽ biết cách tạo điều kiện cho con mình tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện nhất.

Nâng cao chỉ số IQ cho trẻ từ những năm đầu đời


Nâng cao chỉ số IQ cho trẻ từ những năm đầu đời


Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đi đến kết luận: sự biến đổi tâm lý của thai phụ có ảnh hưởng rất lớn đến thai nhi, và việc dạy dỗ trẻ tốt từ khi chưa lọt lòng có thể làm tăng chỉ số thông minh (iq) ở trẻ.

Nâng cao IQ từ trong bụng mẹ

Trong thời kỳ mang thai, nếu thai phụ được sinh hoạt trong hoàn cảnh tốt, nghe những điệu nhạc du dương, êm dịu, thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật, ngắm phong cảnh đẹp hoặc đọc những cuốn sách hay… thì biểu đồ sóng siêu âm cho thấy hoạt động của các cơ quan hoặc phản ứng sinh lý của thai nhi đều diễn ra rất tốt. Còn ngược lại, nếu trong thời gian mang thai, người mẹ phải chịu những áp lực không thuận lợi từ điều kiện sống thì những biểu hiện hoạt động tích cực của thai nhi cũng kém đi.
Các bà mẹ có thể tham khảo một số cách đơn giản sau đây để giúp nâng cao chỉ số IQ cho trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ
Âm nhạc: Từ khi người mẹ biết mình đã có thai, nên cho thai nhi tiếp xúc với âm nhạc mỗi ngày và mỗi khi có thời gian cho đến khi trẻ ra đời. Tốt nhất là nhạc thiếu nhi, dân ca, nhạc nhẹ, nhạc cổ điển. Điều này sẽ kích thích sự phát triển tri giác, đem lại hiệu quả “an thần” cho thai nhi.
Trò chơi: Khi người mẹ cảm nhận được sự vận động của thai nhi thì đã bắt đầu có thể chơi trò “vỗ một cái, động một cái; vỗ hai cái, động hai cái”. Trò chơi này kéo dài khoảng một tháng thì trẻ sẽ có những phản ứng phối hợp nhịp nhàng với động tác của mẹ.
Nói chuyện: Từ tháng thứ 6 trở đi, hệ thống thần kinh thính giác của thai nhi đã có thể cảm nhận được nhịp tim và sự hô hấp của mẹ. Sau bảy tháng, sẽ dần dần có phản ứng với những âm thanh đến từ môi trường bên ngoài. Vì vậy, mẹ có thể “nói chuyện” với thai nhi một cách dịu dàng, điều này không chỉ kích thích sự phát triển thính lực của thai nhi mà còn làm thai nhi cảm thấy thoải mái hơn.
Ăn uống: Những thai phụ có chế độ ăn uống cân bằng và đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của trẻ sau này, đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển trí não của trẻ.
Từ lúc sinh đến 3 tuổi
Giao tiếp bằng mắt: Những khoảnh khắc tuy ngắn ngủi này cũng đem lại những lợi ích cho trẻ. Khi trẻ mở to mắt, hãy nhìn vào mắt trẻ. Trẻ có khả năng phân biệt khuôn mặt từ rất sớm, và mỗi lần trẻ nhìn thấy bạn khả năng quan sát và trí nhớ của trẻ dần dần được hình thành.
Cho trẻ bú sữa mẹ: Cố gắng cho trẻ bú sữa mẹ một thời gian dài. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, những trẻ được bú sữa mẹ có chỉ số IQ khá cao. Khi cho trẻ bú, bạn hãy tranh thủ hát cho trẻ nghe, đó chính là cơ hội tốt để “giao lưu” với trẻ.
Tán gẫu: Lúc đầu chắc chắn bạn sẽ chỉ nhận được cái nhìn ngơ ngác của trẻ, hãy dừng lại một chút cho trẻ có cơ hội tham gia câu chuyện. Dần dần, trẻ sẽ “a…a…” trò chuyện với bạn cho mà xem.
Xem phản ứng của trẻ: Cho trẻ tự soi mình trong gương. Ban đầu, có thể trẻ sẽ tưởng bóng mình trong gương là một đứa trẻ dễ thương nào đó, nhưng chẳng bao lâu sẽ đến lúc trẻ sẽ rất thích thú vẫy tay chào chính mình trong gương.
Cù nhẹ vào chân trẻ: Bạn có thể cù nhẹ vào chân trẻ. Tiếng cười chính là hạt giống đầu tiên của sự hài hước. Bạn có thể nói rằng: “Mẹ đã bắt được con rồi!”, sau đó cù vào chân trẻ và dẫn dắt trẻ tham gia trò này.
Chỉ ra sự khác biệt: Lấy hai bức hình có sự khác biệt, đưa cách mắt trẻ khoảng 20-30cm cho trẻ xem, trẻ sẽ xem đi xem lại và dần dần phát hiện ra sự khác nhau. Điều này rất có ích cho việc học chữ của trẻ sau này.
Chia sẻ cùng trẻ những điều hai mẹ con nhìn thấy: Khi bế trẻ đi dạo, hãy chỉ cho trẻ những thứ bạn nhìn thấy và chia sẻ, trò chuyện cùng với trẻ. Như vậy trẻ sẽ có thêm cơ hội biết thêm nhiều từ mới cùng những sự vật ở thế giới xung quanh.
Ca hát: Hãy học thêm thật nhiều bài hát, hoặc nếu có khả năng, bạn cũng có thể tự soạn một số bài hát để hát cho trẻ nghe. Các chuyên gia cho rằng âm điệu của những bài hát có liên quan tích cực đến việc học toán của trẻ sau này.
Học tập ngay cả khi thay tã: Nhân cơ hội thay tã hãy chỉ cho trẻ biết cách gọi các bộ phận cơ thể hoặc tên của áo quần để giúp trẻ hiểu thêm về bản thân mình.
Tạo niềm vui bất ngờ: Những lúc rảnh rỗi, bạn nên nhẹ nhàng vuốt ve mặt, bụng hoặc tay chân để tạo niềm vui cho trẻ. Lúc đó bạn hãy quan sát phản ứng và khả năng phối hợp của trẻ.
Đọc sách: Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng trẻ 8 tháng tuổi đã có thể nhớ thứ tự của một số từ vựng trong những câu mà bạn nói với trẻ, điều này rất có lợi cho khả năng ngôn ngữ sau này của trẻ.
Giúp trẻ cảm nhận: Bạn hãy chuẩn bị một ít loại vải khác nhau như tơ tằm, nhung, vải sợi thô…, rồi nhẹ nhàng cọ xát những loại vải đó trên bụng, ngực, lòng bàn chân của trẻ. Vừa làm vừa miêu tả cho trẻ nghe cảm giác sẽ như thế nào.
Xem hình: Hình của những người thân hoặc họ hàng trong gia đình có thể giúp trẻ luyện trí nhớ. Chẳng hạn, khi bà nội gọi điện thoại cho trẻ, vừa để trẻ nghe giọng bà qua điện thoại, vừa đưa trẻ xem ảnh bà nội.
Tự tập ăn: Trẻ khoảng 10 tháng tuổi đã có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, bạn có thể tập cho trẻ tự cầm thức ăn thử xem.
Vượt chướng ngại: Đặt một số chướng ngại dưới sàn nhà, như: Gối ôm, gối tựa lưng, hộp giấy… sau đó bạn biểu diễn cho trẻ xem trước cách làm thế nào để vượt qua những thứ đó, nên bước qua hay nên bò phía dưới. Điều này giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động.
Mẹ và con cùng chơi: Khi trẻ sờ mũi bạn, bạn sẽ phùng hai má; trẻ kéo tai bạn, bạn phải le lưỡi ra; nếu trẻ đánh vào đầu bạn, bạn kêu lên một âm thanh khác lạ… Có thể lặp lại chừng ba bốn lần, sau đó có thể thay đổi quy luật và bắt trẻ đoán xem bạn sẽ làm gì.