Hiển thị các bài đăng có nhãn children. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn children. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Phát hiện biến dạng bàn chân ở trẻ


Phát hiện biến dạng bàn chân ở trẻ  

Ngoài nguyên nhân bại não và các tai biến sản khoa, trẻ có thể bị biến dạng bàn chân do di truyền hoặc tư thế khi còn nằm trong bào thai. Các dị tật ở cột sống, háng và gối cũng làm thay đổi hình thái và cấu tạo của bàn chân.

Các biến dạng thường gặp là bàn chân dẹt hoặc vòm quá, vẹo vào trong hoặc ra ngoài, gấp áp sát cẳng chân. Ngoài ra còn có bàn chân giống hình thuổng, thẳng như chân ngựa do gân gót bị co không thể gấp cổ chân lên được hoặc bàn chân vẹo vào trong, gan chân và gót ngửa lên trời.
Khi mới sinh con, người mẹ cần kiểm tra bàn chân của trẻ, nếu có nghi ngờ thì dùng lông bàn chải mềm kích thích da chân để xem trẻ cử động bất thường không. Trường hợp khó xác định thì cần đi khám ngay.
Nếu biến dạng ngày càng rõ hơn sau ngày sinh, có thể xoa tay sạch bằng phấn rôm rồi uốn nhẹ nhàng chân bị biến dạng của trẻ, đưa về hình thái bình thường. Phần lớn trẻ sơ sinh có biến dạng được uốn nhẹ nhàng, kiên trì, liên tục sẽ dần trở lại bình thường. Tuy nhiên, với những biến dạng khó nắn chỉnh, cần đưa trẻ đi khám tri giác, cột sống, háng, gối, xương cổ chân, bao khớp, gân... để xem có bị xô lệch trật khớp không.
Trẻ trên 1 tuổi nếu còn di chứng thì cần can thiệp bằng phẫu thuật phần mềm như bao khớp, dây chằng mà không vào xương. Các thủ thuật ở xương chỉ được tiến hành sau tuổi dậy thì (nữ 13, nam 14-15 tuổi).
Bác sĩ Dương Đức Bính, Sức Khỏe & Đời Sống

Phát hiện hội chứng Down khi thai nhi chỉ mới từ 11 đến gần 14 tuần


Phát hiện hội chứng Down khi thai nhi chỉ mới từ 11 đến gần 14 tuần

Hội chứng Down- một dạng chậm phát triển tâm thần khiến cho bệnh nhân trở nên khù khờ và hầu như không có khả năng học hành- là rối loạn di truyền thường gặp nhất trong các trẻ sơ sinh còn sống và cũng chính là loại rối loạn dễ bị bỏ sót nhất trên siêu âm.

Đây là hội chứng không thể chữa khỏi được, gây một gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội. Với sự phát triển của y học ngày nay, chúng ta có thể phát hiện được đến 90% các trường hợp hội chứng Down từ khi đứa trẻ chỉ mới được 11 đến 13 tuần 6 ngày trong bụng mẹ.
Nguy cơ trẻ mắc hội chứng Down gia tăng theo tuổi mẹ. Do đó, từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, một số nước phát triển đã áp dụng biện pháp tầm soát hội chứng Down dựa trên yếu tố tuổi mẹ. Tất cả những sản phụ  trên 35 tuổi đều được tham vấn để chọc ối (hút nước ối  qua thành bụng để kiểm tra bộ nhiễm sắc thể của thai nhi, từ đó chẩn đoán hội chứng Down). Tuy nhiên, tỷ lệ hội chứng Down được phát hiện chỉ gần 30%. Có nghĩa là trong 10 trẻ Down, chỉ có 3 trẻ được phát hiện trước sanh để chấm dứt thai kỳ và 7 trẻ còn lại bị bỏ sót.

Da gáy bình thường

Đến thập niên 80, việc tầm soát hội chứng Down dựa trên sự phối hợp tuổi mẹ và xét nghiệm các dấu ấn sinh học thai trong máu mẹ (AFP, HCG và UE3) khi thai 16-18 tuần để kiểm tra nguy cơ mắc hội chứng Down ở đứa trẻ trước khi thai phụ được tham vấn có nên chọc ối hay không. Cũng xin nói thêm rằng chọc ối có thể làm gia tăng một số nguy cơ đối với thai nhi, chẳng hạn như sinh non hoặc sẩy thai. Phương pháp này giúp phát hiện khoảng 60% hội chứng Down. Điều này có nghĩa nếu làm xét nghiệm sinh hóa sàng lọc hội chứng Down cho tất cả sản phụ có thai trong giai đoạn 16-18 tuần thì cũng chỉ có 6 trong 10 trẻ Down được phát hiện trước sanh.
Đến thập niên 90, giới chuyên môn ghi nhận có sự liên quan giữa độ mờ da gáy dày ở bào thai và hội chứng Down. Độ mờ da gáy càng dày thì nguy cơ hội chứng Down càng tăng. Cần nhớ rằng, dấu hiệu này chỉ xuất hiện trong một giai đoạn từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày. Sau 14 tuần, da gáy sẽ trở về bình thường và điều này không có nghĩa là thai bình thường. Sàng lọc hội chứng Down dựa trên tuổi mẹ phối hợp với đo độ mờ da gáy thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày sẽ giúp phát hiện gần 80% hội chứng DOWN. Cần lưu ý, nếu da gáy dày nhưng nhiễm sắc thể bình thường (trẻ không bị hội chứng Down), thì trẻ vẫn có nguy cơ cao bị dị tật tim thai. Nếu độ mờ da gáy >3.5mm, khoảng 1/3 trường hợp sẽ có bất thường nhiễm sắc thể.  Trong 2/3 các trường hợp còn lại sẽ có 1/16 trường hợp có dị tật tim (Thống kê của Viện Y khoa thai nhi, đặt ở London- Anh Quốc). Do đó, khi thai có da gáy dày và nhiễm sắc thể bình thường thì vẫn cần được một chuyên gia về tim thai siêu âm lúc 22 tuần.
Hiện nay, việc sàng lọc hội chứng Down dựa trên sự phối hợp giữa yếu tố tuổi mẹ, siêu âm đo độ mờ da gáy và xét nghiệm các dấu ấn sinh học thai (PAPP-A, free beta HCG) trong máu mẹ ở tuổi thai 11 tuần -13 tuần 6 ngày. Tất cả các yếu tố này sẽ được một phần mềm chuyên dụng tính toán phối hợp lại, đưa ra một nguy cơ cuối cùng về  khả năng sanh con Down của sản phụ là bao nhiêu. Nếu nguy cơ cao, sản phụ sẽ được tham vấn chọc ối. Phương pháp này giúp phát hiện 90% hội chứng Down. Như vậy, trong 10 trẻ Down, chỉ có một trẻ bị bỏ sót.


Mới đây, Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM) đã phối hợp với Hiệp hội siêu âm Úc (ASUM) và Tổ chức y học thai nhi (FMF) ở London mở lớp tập huấn siêu âm đo độ mờ da gáy và kỹ thuật sinh thiết gai nhau (lấy mẫu nhau của thai nhi để kiểm tra bộ nhiễm sắc thể) để tầm soát và chẩn đoán hội chứng Down giai đoạn sớm: từ 11 -13 tuần 6 ngày. Khoảng 140 học viên từ 32 tỉnh thành phía Nam đã về tham dự. Bệnh viện Từ Dũ là nơi đầu tiên trong cả nước được chính thức công nhận đủ khả năng đo độ mờ da gáy và được sử dụng phần mềm chuyên dụng tính nguy cơ hội chứng DOWN từ FMF London dựa trên sự phối hợp yếu tố tuổi mẹ, bề dày độ mờ da gáy và xét nghiệm sinh hóa máu mẹ ở tuổi thai 11 đến 13 tuần 6 ngày.
Như vậy, để tầm soát tốt nhất hội chứng DOWN, thai phụ cần siêu âm đo độ mờ da gáy và xét nghiệm sinh hóa sàng lọc giai đoạn 11 tuần -13 tuần 6 ngày. Phần mềm của FMF sẽ giúp tính ra nguy cơ hội chứng DOWN. Nếu có nguy cơ cao ( >1/300),  sản phụ sẽ được tham vấn sinh thiết gai nhau hoặc chọc ối để chẩn đoán xác định.
                                                                                                    Bác sĩ Hà Tố Nguyên(Trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ)

Dị tật không hậu môn ở trẻ


Dị tật không hậu môn ở trẻ

Dị tật này xảy ra ở 1/5.000 trẻ sơ sinh. Khoa học chưa xác định được nguyên nhân, chỉ biết nó liên quan đến một số yếu tố như mẹ nhiễm virus, tiếp xúc với tia phóng xạ hoặc dùng thuốc trong thời kỳ thai nghén.

Dị tật không hậu môn được phân làm 2 loại cao và thấp, cách điều trị cũng khác nhau. Thể thấp gặp trong 90% trường hợp, trẻ sinh ra không hậu môn nhưng có một đường rò nhỏ xì phân ra dưới da, đổ ra bìu (trẻ trai) hoặc phía ngoài bộ phận sinh dục (trẻ gái). Trong trường hợp này, bé có thể được phẫu thuật làm ngay hậu môn thật. Chức năng hoạt động của hậu môn thường tốt, trẻ có thể tự đi cầu bình thường.
Ở thể cao, trẻ sinh ra hoàn toàn không có vết tích của hậu môn, không có đường rò phân dưới da, hoặc nếu có thì phân cũng đổ vào đường tiểu hoặc đường sinh dục ở trên cao (như âm đạo, niệu đạo hoặc cổ bàng quang). Ở một số trẻ gái, trực tràng, bộ phận sinh dục và đường tiểu cùng đổ chung vào một lỗ (chuyên môn gọi là tồn tại ổ nhớp). Trường hợp này, trẻ sơ sinh sẽ được làm hậu môn tạm và đi tiêu bằng một lỗ trên thành bụng. Sau vài tháng, bác sĩ sẽ tiến hành làm hậu môn thật phía dưới. Hậu môn này được nong dần cho đến khi đạt được kích thước bình thường. Khi ấy, trẻ sẽ được phẫu thuật đóng hậu môn tạm trên thành bụng và đi cầu bên dưới như trẻ bình thường.
Việc điều trị dị tật không hậu môn cần được tiến hành sớm để trẻ có thể đi cầu bình thường, đồng thời tránh những tổn thương tâm lý khi trẻ đã hiểu biết.
ThS Trương Quang Định, Người Lao Động

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC EM BÉ SINH RA TỪ KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM


SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC EM BÉ SINH RA TỪ KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

Tác giả : BS. HỒ MẠNH TƯỜNG (BV. Phụ sản Từ Dũ)

Trên thế giới, kể từ khi chương trình thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) bắt đầu, đã có rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe và sự phát triển của những bé sinh ra từ các kỹ thuật này. Ða số những nghiên cứu đều cho thấy các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON và các kỹ thuật tương đương có tỷ lệ dị tật bẩm sinh và sự phát triển tâm lý không khác biệt so với trẻ bình thường.

Riêng tại Việt Nam, chương trình TTTON được tiến hành khoảng gần 6 năm và những em bé đầu tiên đã trên 5 tuổi. Theo thống kê tại BV. Phụ sản Từ Dũ, tính đến tháng 11/2003, số trẻ ra đời từ chương trình TTTON của bệnh viện là gần 1.100. Trong những năm qua, BV. Phụ sản Từ Dũ đã có nhiều chương trình theo dõi sức khỏe và sự phát triển của các cháu một cách liên tục.

MỘT CUỘC KHẢO SÁT QUY MÔ

Nhằm có một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của các em bé sinh ra từ TTTON và những kỹ thuật liên quan tại Việt Nam, bệnh viện đã thực hiện một cuộc khảo sát khá quy mô. Tất cả các em bé được sinh ra từ những kỹ thuật TTTON cổ điển, ICSI hoặc xin trứng (đã ít nhất 12 tháng tuổi cho đến thời điểm nghiên cứu) đều được mời tham gia bằng cách gửi thư và điện thoại xác nhận. Sau đó hẹn ngày đến khám tại BV. Phụ sản Từ Dũ.
Các số liệu về điều trị TTTON, thai kỳ và kết quả sinh được ghi nhận qua hồ sơ bệnh án hoặc hỏi trực tiếp bệnh nhân, do khoa Hiếm muộn BV. Phụ sản Từ Dũ ghi nhận. Việc khám, đánh giá sức khỏe và tình trạng phát triển thể chất của nhóm bé do các bác sĩ chuyên khoa Nhi thực hiện. Việc đánh giá sự phát triển về tâm thần và vận động của các bé do các bác sĩ chuyên khoa tâm lý trẻ em của BV. Tâm thần TPHCM đảm nhiệm. Bảng đánh giá Denver dùng tầm soát các bất thường về phát triển tâm lý vận động trẻ em của BV. Tâm thần TPHCM được sử dụng để tầm soát các bất thường của bé đến khám.
Quá trình khám, thu thập số liệu kéo dài liên tục gần 3 tháng, với sự tham gia của gần 30 bác sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng và nhân viên hậu cần. Mỗi buổi khám có từ 15-20 bé do 2 bác sĩ nhi khoa, 6-8 bác sĩ chuyên khoa tâm lý trẻ em, 6 nữ hộ sinh khám và ghi nhận, nhằm đảm bảo cho việc khám được chi tiết và chính xác.
Ðặc điểm chung của các bé
Ðến thời điểm giữa năm 2002, gần 300 bé sinh ra từ các biện pháp hỗ trợ sinh sản đã được trên 1 tuổi (dao động từ 12 tháng đến 55 tháng). Bệnh viện đã liên hệ với 281 bé của 189 bà mẹ và mời tham gia nghiên cứu. Sau đó có 221 bé của 145 bà mẹ đồng ý đến bệnh viện để khám, đạt tỷ lệ gần 80%. Trong đó, bao gồm các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON cổ điển (130 bé), ICSI (49 bé) và cho trứng (42 bé), có cả các trường hợp sinh 1, sinh 2, sinh 3 và sinh 4. Ðây là một tỷ lệ khá cao so với các báo cáo trên thế giới.
Về tình trạng dinh dưỡng
Khảo sát về tình trạng dinh dưỡng được dựa trên các số đo về chiều cao, cân nặng và vòng đầu. Sau đó đem đối chứng với số liệu về sự phát triển trung bình của trẻ em Việt Nam theo lứa tuổi. Trong 221 bé được khảo sát, có 5 bé thừa cân, 216 bé bình thường, không có bé nào suy dinh dưỡng.
Với đặc điểm mẫu khảo sát gồm nhiều bé sinh từ các chu kỳ đa thai (sinh 2, 3, 4), sự phát triển về thể chất của các cháu đều nằm trong giới hạn bình thường. Ðiều này cho thấy, hầu hết các cháu được chăm sóc khá kỹ về dinh dưỡng, cho nên mặc dù có thể nhẹ cân lúc sinh nhưng trong vòng 1 năm trở lên, các cháu đã có thể bắt kịp những trẻ bình thường về mặt thể chất.
Về dị tật bẩm sinh và bất thường khác về sức khỏe
Các bé được bác sĩ nhi khoa khám và đánh giá về những dị tật bẩm sinh và bất thường của các hệ cơ quan trong cơ thể như: hệ tim mạch, hô hấp, tai mũi họng, răng hàm mặt, cơ xương, khớp, sinh dục - tiết niệu, da.
Về tình trạng sức khỏe nói chung, các cháu đến khám đều ở tình trạng tốt về sức khỏe. Chúng tôi không ghi nhận một vấn đề đặc biệt nào về sức khỏe và bệnh lý ở các cháu. Tỷ lệ dị tật bẩm sinh là 1% (1 trường hợp trật khớp háng và 1 trường hợp dính bàn tay). Nhưng những dị tật này đều là nhẹ và chiếm tỷ lệ khá thấp so với dân số bình thường.
Sự phát triển về tâm lý và vận động theo thang đánh giá Denver
Ðể đánh giá sự phát triển bất thường về tâm lý vận động, test Denver được dùng để đánh giá 4 mặt phát triển sau ở mỗi bé: (1) Cá nhân - xã hội, (2) Ngôn ngữ, (3) Vận động tinh tế, (4) Vận động thô sơ.
Chúng tôi chưa thể đối chứng kết quả ghi nhận được về tỷ lệ chậm phát triển tâm lý vận động so với trẻ em cùng lứa tuổi ở Việt Nam hiện nay, do các bé khảo sát ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, khi sử dụng thang điểm Denver để đánh giá, các chuyên gia tâm lý tại BV. Tâm thần TPHCM cho rằng: Tỷ lệ chậm phát triển tâm thần vận động ở các trẻ sinh 1 và sinh 2 được xem là ở mức bình thường. Tỷ lệ chậm phát triển tâm lý, vận động có vẻ cao hơn ở nhóm sinh 3 và sinh 4. Ðiều này cũng được ghi nhận ở nhiều nghiên cứu khác trên thế giới.

KẾT LUẬN

Nhìn chung, các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON và những kỹ thuật tương đương tại BV. Phụ sản Từ Dũ phát triển bình thường về thể chất, tâm lý và vận động. Không có khác biệt về sự phát triển giữa các trẻ sinh ra từ những kỹ thuật khác nhau. Tuy nhiên cần tiếp tục theo dõi sự phát triển của các cháu trong thời gian tới để có những đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn.
Các bé sinh ra trong những trường hợp sinh 3 và sinh 4 có khuynh hướng phát triển chậm hơn các trường hợp sinh 1 và sinh 2. Do đó, để các cháu phát triển tốt, cần có biện pháp giảm tỷ lệ đa thai trong điều trị vô sinh. Hiện nay, với việc áp dụng thành công và đồng bộ nhiều phác đồ và kỹ thuật mới như: giảm số phôi chuyển ở những trường hợp tiên lượng tốt, trữ lạnh phôi dư, kỹ thuật giảm thai; BV. Phụ sản Từ Dũ đã gần như kiểm soát được hoàn toàn tình trạng đa thai (từ 3 thai trở lên). Với gần 300 em bé TTTON ra đời trong năm 2003, chúng tôi chỉ có 1 trong 3 trường hợp sinh 3.
Việc khảo sát sự phát triển của các bé sinh ra từ kỹ thuật TTTON thể hiện thái độ nghiêm túc và khoa học của Việt Nam trong việc phát triển các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Ðây sẽ là nền tảng, làm cơ sở cho sự phát triển về lĩnh vực này tại Việt Nam trong tương lai.
Trên thế giới hiện nay, hàng năm có khoảng 500.000 chu kỳ TTTON và các kỹ thuật tương đương được thực hiện và tổng số bé TTTON ra đời đã trên 1 triệu bé (ước tính trung bình trên 100.000 bé/năm). Ở các nước phát triển, số bé ra đời từ kỹ thuật TTTON chiếm gần 5% tổng số em bé ra đời mỗi năm. Do đó, các em bé TTTON ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong cộng đồng.

Vì sao trẻ bị mập mờ về giới tính?


Vì sao trẻ bị mập mờ về giới tính?

Nhiễm sắc đồ của một bé trai bình thường.

Nhiều đứa trẻ sinh ra có dương vật quá bé hoặc cơ quan sinh dục ngoài không rõ ràng (ái nam ái nữ) mặc dù xét về nhiễm sắc thể, đó là em bé trai. Nguyên nhân có thể là bất thường về hoóc môn hoặc nhiễm sắc thể.

Thông thường, những trẻ có nhiễm sắc đồ là 46, XX khi sinh ra sẽ là con gái; trẻ có nhiễm sắc đồ 46, XY sẽ là con trai. Nhưng đôi khi, do những trục trặc trong tiến trình biệt hóa giới (diễn ra trong 6-7 tuần lễ đầu của thai kỳ) nên trẻ 46, XY có cơ quan sinh dục không ra nữ, không ra nam. Có nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng này.
Hội chứng không nhạy cảm bộ phận với androgen: Hội chứng này ảnh hưởng đến những cá thể có nhiễm sắc đồ 46, XY, khiến trẻ sinh ra có cơ quan sinh dục ngoài lớn hơn âm vật nhưng nhỏ hơn dương vật, có thể có dính một phần môi lớn/bìu. Nguyên nhân là có những bộ phận không đáp ứng với androgen. Hai tinh hoàn có thể không di chuyển xuống bìu, lỗ niệu đạo lạc chỗ đến tầng sinh môn. Ở tuổi dậy thì, bệnh nhân có vú phát triển kiểu nữ cùng với lông mọc thưa ở mu và nách.
Nếu mắc hội chứng không nhạy cảm hoàn toàn với androgen, những cá thể có nhiễm sắc đồ 46, XY sẽ phát triển cơ quan sinh dục ngoài kiểu nữ, mặc dù vẫn có tinh hoàn trong ổ bụng.

Loạn sản không hoàn toàn tuyến sinh dục: Đặc trưng của bệnh này là sự biệt hóa không hoàn toàn tinh hoàn nên thường có cơ quan sinh dục ngoài không rõ ràng khi sinh ra. Ở những bệnh nhân bị loạn sản tuyến sinh dục hoàn toàn, cơ quan sinh dục ngoài lại phát triển theo kiểu nữ do lượng androgen không đủ để nam tính hóa các mầm mống sinh dục.

Thiếu hụt enzym 5-reductase: Khi thai phát triển, các tuyến sinh dục biệt hóa để thành tinh hoàn bình thường. Tuy nhiên, những cá thể thiếu enzym 5-reductase không thể chuyển testosterone thành dihydrotestosterone (DHT) - một chất cần thiết để cơ quan sinh dục ngoài được nam tính hóa bình thường. Kết quả là trẻ ra đời với tinh hoàn hoạt động nhưng dương vật bé giống như một âm vật và bìu giống như môi lớn.
Đến tuổi dậy thì, bệnh nhân cũng có cơ bắp phát triển, giọng nói trầm, dương vật to ra (mặc dầu khó có thể đạt được chiều dài bình thường); có sản xuất tinh trùng nếu tinh hoàn không bị tổn thương. Lông mọc khá nhiều ở mu và nách nhưng không có hoặc ít râu.
Thiếu sót trong sự tổng hợp testosterone: Testosterone được tạo ra từ cholesterol qua nhiều bước chuyển tiếp sinh hóa. Ở một số cá thế, một trong những enzym cần cho sự chuyển tiếp nói trên bị thiếu nên không thể tạo ra lượng testosterone bình thường, mặc dù vẫn có tinh hoàn. Việc thiếu hoàn toàn sự tổng hợp testosterone ở những cá thể 46, XY sẽ sinh ra những trẻ có cơ quan sinh dục hoàn toàn kiểu nữ. Còn tình trạng thiếu không hoàn toàn sẽ khiến cơ quan sinh dục của trẻ bị mập mờ.

Thiếu androgen: Hoóc môn này rất cần thiết ở 2 thời điểm phát triển của thai, đảm bảo sự tạo thành một dương vật bình thường. Ở giai đoạn sớm, nó giúp nam tính hóa các mầm mống bài thai, chuẩn bị chuyển thành dương vật và bìu. Ở giai đoạn muộn, nó làm cho dương vật to ra. Nếu thai nhi có bài tiết androgen ở giai đoạn sớm nhưng về sau lại bài tiết ít thì dương vật không phát triển được về kích thước. Trẻ vẫn là con trai thực sự và có 2 tinh hoàn.
Đến tuổi dậy thì, nếu được điều trị bằng testosterone thì có thể làm cho dương vật to ra, tuy khó đạt được kích thước bình thường.

Thiếu sót về thời điểm biệt hóa: Tiến trình biệt hóa nếu không diễn ra đúng thời điểm sẽ gây trở ngại đến sự phát triển bình thường của cơ quan sinh dục ngoài. Nếu biệt hóa chậm vài tuần, trẻ sinh ra có thể bị mập mờ về cơ quan sinh dục ngoài.

Quá sản bẩm sinh tuyến thượng thận: Trong trường hợp này, androgen nguồn gốc thượng thận quá nhiều, dẫn đến sự không rõ ràng ở cơ quan sinh dục ngoài; trẻ có âm vật to và môi lớn dính nhau trông giống như bìu, mặc dù vẫn có nhiễm sắc đồ 46, XY. 
Có nhiễm sắc đồ hình khảm 45, XO/46, XY: Hình khảm nghĩa là có 2 hay hơn 2 nhiễm sắc thể ảnh hưởng đến sự phát triển của cá thể. Hình khảm 45, XO/46, XY thể hiện bệnh cảnh pha trộn liên quan đến nhiễm sắc thể Y, với sự biệt hóa giới không rõ ràng. Một phần tinh hoàn đã biệt hóa, có androgen bài tiết ở mức độ nhất định, cơ quan sinh dục ngoài không rõ ràng. Trẻ có thể sinh ra với bề ngoài là nam, nữ hay không rõ ràng. Đến tuổi dậy thì, nếu được điều trị bằng liệu pháp estrogen thì trẻ sẽ nữ hóa, điều trị bằng testosterone thì nam hóa.
Hội chứng Kinfelter: Xảy ra ở những người có nhiễm sắc đồ 47, XXY. Đến tuổi dậy thì, bệnh nhân có vú phát triển kiểu nữ, bài tiết androgen ít, tinh hoàn bé và tinh trùng ít. Mặc dù bệnh nhân có sự biệt hóa bình thường ở cơ quan sinh dục ngoài nhưng dương vật thường bé hơn so với người bình thường.
BS Đào Xuân Dũng, Sức Khỏe & Đời Sống

Trẻ sinh trước 37 tuần dễ bị vàng da


Trẻ sinh trước 37 tuần dễ bị vàng da

Trẻ sinh thiếu 1-2 tuần cần được chăm sóc đặc biệt. 

Mặc dù ra đời sớm hơn chỉ 1-2 tuần, song trẻ vẫn có sức đề kháng yếu hơn so với những bé đủ 37 tuần tuổi. Những trường hợp sinh non khi mới được 35 hoặc 36 tuần dễ bị vàng da và giảm glucose huyết hơn.

Một nhóm chuyên gia đến từ Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Mỹ, đã so sánh tình trạng sức khỏe của khoảng 90 trẻ sinh đủ tháng (từ 37 tuần trở lên) với một số tương đương ra đời sớm hơn 1 tới 2 tuần tuổi. Kết quả cho thấy, nhóm trẻ sinh "hơi non" gặp nhiều vấn đề về sức khỏe hơn. 18 bé mắc đa bệnh, trong khi không có trường hợp đủ tháng nào bị nhiều hơn 1 bệnh. Số trẻ sinh non bị chứng giảm glucose huyết nhiều gấp 3 lần nhóm đủ tháng. Hơn một nửa trẻ thiếu tháng bị vàng da, trong khi chỉ có 37,9% trẻ đủ tháng mắc bệnh. Ngoài ra, trẻ sinh kém tuần còn dễ bị rối loạn hô hấp, khó giữ thân nhiệt và cần được điều trị bằng nhiều biện pháp khác nhau tốn kém hơn.
"Quan niệm trước đây rằng trẻ sinh gần đủ tháng vẫn có sức khỏe như những trường hợp đúng tuổi là hoàn toàn sai lầm. Thực tế là các em có sức đề kháng kém hơn, dễ bị vàng da và giảm glucose huyết hơn", trưởng nhóm nghiên cứu Marvin Wang cho biết. Nguyên nhân ra đời sớm hơn khoảng 1,2 tuần có thể liên quan đến những biến chứng thai kỳ như mẹ bị vỡ nút nhầy, bị viêm nhiễm, có quá nhiều nước ối hoặc bào thai bị hạn chế sức phát triển.
Tuy nhiên, đôi khi việc sinh non 1, 2 tuần là cần thiết vì một số lý do sức khỏe. Trong trường hợp này, các bà mẹ cũng không nên quá lo lắng vì phần lớn bé sẽ vượt qua những ngày đầu khó khăn nhờ các phương pháp chăm sóc hiện đại.
 (theo BBC)

Trẻ em lớn lên trong giấc ngủ


Trẻ em lớn lên trong giấc ngủ

Quan niệm lâu nay cho rằng trẻ cao lên qua đêm có lẽ là thật. Các nhà nghiên cứu tại trường thú y, Đại học Wisconsin ở Madison, Mỹ đã cài bộ cảm biến lên xương chân của những con cừu non để theo dõi sự tăng trưởng xương của chúng.

Kết quả cho thấy, 90% xương mọc ra khi những con vật đang ngủ, nói cách khác là lúc đang nghỉ ngơi.
"Chúng tôi quan sát mô hình tăng trưởng không liên tục này, nhưng điều thực sự thú vị là xương chỉ mọc thêm khi các con vật nằm xuống, và hầu nhưng không có sự tăng trưởng khi lũ cừu đứng hoặc đi lại", tác giả của nghiên cứu, Norman Wilsman nói.
Wilsman giả thích đó là do các đĩa tăng trưởng (bao gồm những mảnh sụn mềm ở chỏm xương) bị nén lại khi con vật đứng hoặc đi lại, ngăn cản việc phát triển. Khi cừu nằm xuống, áp lực đè lên các đĩa tăng trưởng mất đi, và xương mọc dài ra.
Một thành viên của nhóm, Kenneth Noonan, cho biết: "Nghiên cứu này chỉ ra rằng tăng trưởng không phải là quá trình liên tục, có những bước nhảy đột ngột xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của cừu và có thể điều đó cũng diễn ra trên người".
(theo Reuters)

Trẻ có lợi khi sớm tiếp xúc với vật nuôi


Trẻ có lợi khi sớm tiếp xúc với vật nuôi

Không ít người cho rằng trẻ sớm tiếp xúc với vật nuôi như chó, mèo dễ mắc hen suyễn và các bệnh dị ứng. Song một nghiên cứu mới đây trên gần 2.500 trẻ ở Thụy Điển cho thấy, những em thường chơi với vật cưng có khả năng miễn dịch tốt hơn.

Sau 4 năm nghiên cứu, nhóm chuyên gia nhận thấy, nồng độ IGE - chỉ tiêu xác định lượng globulin miễn dịch - ở những trẻ thường xuyên quấn quýt với động vật cao, do đó khả năng kháng bệnh tốt. Trong khi đó, những em không gần gũi với vật nuôi có tới 80% nguy cơ mắc bệnh. Cũng theo nghiên cứu, một trong những yếu tố quan trọng là việc trẻ sớm được tiếp xúc với những vi sinh vật có nhiều trong chó mèo, giúp các em mau chóng thích nghi với môi trường hơn.
(theo HealthDay)

Trẻ chăm chạy nhảy sẽ bị loãng xương muộn hơn


Trẻ chăm chạy nhảy sẽ bị loãng xương muộn hơn

Các bé gái thường xuyên vận động chạy nhảy sẽ bị loãng xương muộn hơn so với trẻ bình thường khi trưởng thành, do có bộ xương cứng cáp hơn. Các nhà khoa học Anh vừa công bố phát hiện này hôm nay, sau khi tiến hành nghiên cứu trên 80 bé gái trong vòng 2 năm.

Nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Nhi và Đại học Columbia (Anh) tiến hành. Trong số 80 bé gái, 34 em được theo một chế độ luyện tập đặc biệt, đều đặn trong các tiết giáo dục thể chất. Những vận động chủ yếu là nhảy cao tại chỗ, nhảy bật sàn, nhảy xa, nhảy sang 2 bên, kết hợp với chạy. Cường độ của vận động tăng dần. 46 em còn lại không tham gia loại hình tập luyện nào.
Kết quả cho thấy, những em hoạt động theo chế độ trên 3 lần/tuần trong suốt thời gian đi học có khả năng hấp thu khoáng chất bổ sung cho xương tốt hơn 5% so với trẻ không luyện tập.
Theo đánh giá của giới chuyên môn, chế độ vận động mà nghiên cứu đưa ra là an toàn, hiệu quả và tương đối đơn giản. Nó có thể được đưa vào các tiết giáo dục thể chất ở cấp tiểu học, nhằm tăng cường sự tích luỹ khoáng chất trong xương cho trẻ.
Loãng xương là hiện tượng mất xương, khiến xương trở nên giòn và dễ gãy. Bệnh thường đi kèm với tuổi già và hay gặp ở phụ nữ mãn kinh do khả năng sản sinh hoóc môn sinh dục nữ oestrogen giảm. Vận động thể chất ở mọi hình thức đều là sự kích thích quan trọng cho sự phát triển của bộ xương. Thai nhi hay đạp, hoặc chuyển động trong bào thai cũng giúp cho bộ xương có sự phát triển khởi đầu tốt hơn.
(theo Reuters)

Trò chuyện với con tuổi dậy thì


Trò chuyện với con tuổi dậy thì

Cha mẹ đừng chờ đợi trẻ nêu thắc mắc về những thay đổi đang diễn ra trên cơ thể chúng - ngày đó không bao giờ đến, đặc biệt là nếu trẻ không biết rằng chúng có thể trò chuyện với cha mẹ về tuổi dậy thì.

Đúng lúc

Lý tưởng nhất là cha mẹ khởi xướng cuộc trò chuyện với con về những đổi thay trên cơ thể khi chúng bước vào tuổi dậy thì. Đối với bé gái, cha mẹ bắt buộc phải nói chuyện với con về kinh nguyệt trước khi bé bị hành kinh lần đầu tiên. Nếu không biết điều gì đang xảy ra, bé có thể hoảng sợ. Hầu hết các bé gái có kinh nguyệt lần đầu tiên khi chúng 12-13 tuổi; cá biệt có bé bắt đầu hành kinh lúc lên 8 tuổi hoặc mãi đến khi 16 tuổi. Trong khi đó, thông thường, các bé trai bắt đầu bước vào tuổi dậy thì trễ hơn bé gái một ít.
Ngoài ra, các bé gái cần biết về những thay đổi của con trai và các bé trai cũng cần biết con gái bị ảnh hưởng bởi những đổi thay nào. Nhà trường hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hiểu biết của trẻ khi chúng bắt đầu lớn, vì thế cha mẹ sẽ là người lấp đầy những chỗ trống kiến thức đó. Chắc hẳn là trẻ có rất nhiều thắc mắc về tuổi dậy thì. Cha mẹ hãy cho chúng thời gian và cơ hội để nêu câu hỏi. Cha mẹ nhất thiết phải trả lời các câu hỏi của trẻ một cách chân thực và cởi mở.

Nói gì

Điều quan trọng khi nói chuyện với trẻ là phải khẳng định với chúng rằng những thay đổi trong giai đoạn này là chuyện bình thường. Bởi trẻ dễ dàng cảm thấy không an toàn khi tuổi dậy thì đem lại cho chúng quá nhiều thay đổi. Chúng cần phải biết rằng mọi người đều trải qua những điều giống như nhau. Chẳng hạn như bất cứ ai cũng đều bị nổi mụn, tâm trạng thay đổi... Đó là một phần của sự phát triển, nhưng có thể là có sự khác biệt về mức độ.
Cha mẹ hãy cho con trẻ biết rằng chúng có thể nói chuyện bất cứ lúc nào về vấn đề này. Chúng ta có thể lúng túng hoặc khó khăn khi gặp những đề tài “nhạy cảm” và lúc đó trẻ cũng có thể ngần ngại khi đến nói chuyện với cha mẹ. Là cha là mẹ, nhiệm vụ của chúng ta là cố bàn bạc về tuổi dậy thì một cách cởi mở với con trẻ.

Trí não trẻ phát triển như thế nào?


Trí não trẻ phát triển như thế nào?

Nên sớm cho trẻ tiếp xúc với các đồ chơi nhiều màu sắc.

Hai ngày tuổi, bé đã nhận biết mặt mẹ mình. Tuy mắt nhìn còn chưa rõ lắm nhưng bé đã ngó nhìn, so sánh và biết phân biệt gương mặt mẹ với những phụ nữ khác.

Khi được ba tháng, em bé có thể nhận ra mẹ từ xa. Bé không những nhớ các nét mà còn nhận ra được các vẻ mặt khác nhau của người mẹ và vì vậy, trong bất kỳ tình huống nào, bé cũng biết ai là mẹ mình.
Trí nhớ của trẻ nhỏ hoạt động rất tốt. Điều này thể hiện rõ khi được người lớn đưa cho những đồ vật để cầm chơi. Nếu đưa cho bé nhiều lần cùng một đồ vật, nó sẽ không chú ý mấy, chứng tỏ bé đã nhận ra đồ vật đó. Nhưng nếu được đưa một đồ vật mới, trẻ sẽ chú ý nhìn lâu hơn như thể so sánh với những thứ mà nó đã biết rồi.
Trẻ đã biết phân biệt các đồ vật từ khi còn nhỏ. Khoảng 3 tháng tuổi, nếu được đưa cho xem những bức ảnh chụp nam giới và sau đó là nữ giới, bé sẽ nhìn bức ảnh phụ nữ lâu hơn, chứng tỏ nó đã biết phân biệt hai giới. Lớn hơn một chút nữa, bé sẽ phân biệt được con chó với con mèo, phân biệt một hình ảnh có ba đồ vật với hình ảnh có bốn đồ vật... Khả năng phân loại này là bước đầu của tư duy trừu tượng.
Trẻ nhỏ cũng biết tìm ra các quy luật. Khi được 6 tháng, bé đã trẻ biết là nếu đẩy một vật gì đó ra mép bàn, vật đó sẽ rơi xuống đất; hoặc một hòn bi đang lăn nếu chạm vào một hòn bi khác đứng yên thì sẽ làm cho nó cũng lăn đi. Trẻ cũng nhận ra là khi nó khóc, mẹ sẽ chạy tới và khi nó cười thì người lớn xung quanh vui thích. Trẻ nhỏ tích lũy dần những điều phát hiện được và so sánh với nhau. Qua đó, tư duy của trẻ sẽ phát triển...
Cha mẹ cần để cho trẻ phát triển theo nhịp độ tự nhiên và chỉ cần khuyến khích đúng mức. Nếu không, trẻ sẽ không hào hứng mấy nữa. Không cần phải cho trẻ quá nhiều đồ chơi vì điều mà trẻ thích nhất là mẹ luôn ở bên, hát cho nó nghe. Mùi của mẹ cũng là mùi trẻ ưa thích nhất.
(Theo Khoa Học & Công Nghệ)

Tiếng khóc giúp trẻ tự ngủ tốt hơn


Tiếng khóc giúp trẻ tự ngủ tốt hơn

Trục trặc về giấc ngủ của con thường dẫn tới mất ngủ ở mẹ.

Đa số cha mẹ đều cảm thấy rất lo lắng khi con khóc đêm và tìm mọi cách để vỗ về bé. Thế nhưng, nghiên cứu mới của Australia cho thấy, việc bỏ qua những lần khóc này sẽ giúp trẻ tạo cho mình kiểu ngủ đêm hợp lý, ít gây phiền nhiễu cho mọi người.

Các bậc phụ huynh thiếu ngủ vì con nhỏ hay khóc đêm chỉ có thể mơ được ngủ một mạch 8 tiếng liền. Đó là nếu họ có đủ thời gian để... mơ. Thông thường, họ luôn bị đánh thức bởi tiếng kêu khóc của đứa trẻ.
Nghiên cứu của Australia nhằm mục đích đánh giá một biện pháp can thiệp gây nhiều tranh cãi là "Tiếng khóc được kiểm soát". Tại Mỹ, kỹ thuật này được gọi là phương pháp Feber, dựa theo tên của chuyên gia về giấc ngủ ở trẻ em Richard Ferber. Nguyên tắc của phương pháp là khi trẻ khóc đêm, cha mẹ không nên can thiệp ngay mà cần đợi một thời gian rồi mới tới an ủi bé. Điều này sẽ giúp trẻ học cách tự ru mình.
Các nhà khoa học tại Bệnh viện Nhi đồng Hoàng gia Melbourne đã chọn một cách ngẫu nhiên 156 người mẹ có con hay khóc đêm. Những đứa trẻ đều nằm ở độ tuổi 6 tháng tới 1 năm, và trục trặc về giấc ngủ được đánh giá là nặng. Các bà mẹ được chia làm hai nhóm:
- Nhóm 1 được học cách kiểm soát tiếng khóc của trẻ và các kỹ năng khác về giấc ngủ.
- Nhóm 2 không được luyện tập.
Kết quả là sau 2 tháng, những trục trặc về giấc ngủ đã được cải thiện nhiều hơn ở nhóm 1 và tình trạng trầm uất của các bà mẹ trong nhóm này cũng giảm 45%.
Theo Tiến sĩ Brett Kuhn, Giám đốc Bệnh viện Ngủ của Đại học Nebraska (Mỹ), đây là biện pháp duy nhất tỏ ra hiệu quả. Tuy nhiên, không phải cha mẹ nào cũng chấp nhận nó vì nhiều người không thể chịu đựng khi thấy con khóc. 
Những người phản đối thì cho rằng phương pháp này sẽ gây lo lắng cho cả cha mẹ và đứa trẻ. Nhưng Tiến sĩ Kuhn nói rằng, phần lớn các bé đều học được cách tự trấn an mình mà không cần tới sự giúp đỡ của cha mẹ trong vòng chưa tới 1 tuần. Ông nói: "Ý tưởng của phương pháp là làm cho trẻ yên tâm rằng có bạn ở bên cạnh, nhưng không gây hứng thú cho trẻ bằng cách vuốt ve, bế rung hay hát ru. Chuyến viếng thăm ban đêm sẽ trở nên tẻ nhạt và bé sẽ hiểu ra rằng không đáng phải mất công vì điều đó. Hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy những đứa trẻ được bỏ cho khóc sẽ bị tổn thương".
Kỹ thuật Feber có thể áp dụng cho những trẻ chưa ngủ yên giấc về đêm khi lên 6 tháng tuổi, và có thể thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của mỗi gia đình.
Kỹ thuật Feber
* Tạo cho bé thói quen đi ngủ đúng giờ.
* Khi bé bắt đầu khóc, hãy đợi 1-2 phút trước khi tới để vỗ về. Đụng chạm và nói chuyện với bé càng ít càng tốt. Đừng bế bé dậy và cũng đừng bật đèn.
* Rời khỏi phòng khi bé thôi khóc. Lần sau, nếu bé lại khóc, hãy đợi 3-4 phút, và lần tiếp theo thì đợi 5-6 phút. Nhớ là không bế bé dậy và không bật đèn.  
* Tiếp tục bài tập này cho tới khi bé ngủ thiếp đi. Một số phụ huynh có thể đợi tối đa 10 phút trước khi bước vào phòng con, nhưng có người có thể đợi được 15 phút và lâu hơn.
 (theo WebMD)

Thở dài có lợi cho bé


Thở dài có lợi cho bé

Thở dài rất tốt cho phổi của bé.

Những tiếng thở dài khe khẽ làm cho trẻ sơ sinh đôi khi đáng yêu hơn đối với cha mẹ. Thế nhưng, ít ai biết rằng chúng còn có tác dụng điều chỉnh nhịp thở và giúp phổi của bé phát triển.

Các nhà khoa học thuộc Bệnh viện University Children (tại Bern, Thuỵ Sĩ và Perth, Australia) cho biết, cứ khoảng 50 đến 100 lần hít thở, một em bé khoẻ mạnh sẽ thở dài một lần. Những nhịp thở sâu này giúp không khí vào sâu nhiều phần của phổi, đặc biệt là khí quản vốn dễ bị xẹp.
Để tìm hiểu sâu hơn, nhóm nghiên cứu đã theo dõi 25 trẻ một tháng tuổi khoẻ mạnh khi các em đang ngủ trong nôi hoặc trong vòng tay cha mẹ. Họ kiểm tra nhịp tim, nồng độ oxy trong máu cũng như các yếu tố khác có liên quan đến quá trình hô hấp.
David Baldwin và cộng sự phát hiện ra rằng thở dài là một cơ chế cải thiện sự điều khiển quá trình hô hấp của hệ thần kinh. Trước mỗi lần thở dài, nhịp hô hấp của trẻ dường như quá đều đều. Tiếng thở dài sẽ giúp tạo ra một sự thay đổi có lợi cho quá trình hô hấp của các em. Trẻ bị ốm và thiếu tháng dường như thở dài thường xuyên hơn những trường hợp khoẻ mạnh. Bằng cách đó, các em có thể liên tục điều chỉnh lại nhịp thở của mình.
Theo nhóm nghiên cứu, có thể dựa vào kiểu hô hấp của trẻ thiếu tháng để xác định những em có nguy cơ gặp phải các vấn đề rối loạn kiểm soát hô hấp, bao gồm cả hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh hay còn gọi là hội chứng chết trên nôi.
 (theo Reuters)

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BÉ 1 TUỔI


SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BÉ 1 TUỔI

Tác giả : BS. NGUYỄN THỊ NGỌC HƯƠNG

Bé tròn 12 tháng tuổi đến 23 tháng 29 ngày được gọi chung là bé 1 tuổi. Ngày nay, nuôi trẻ mau lớn, phát triển tốt là niềm mơ ước của các bậc cha mẹ và cả xã hội. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về sự tăng trưởng và phát triển của bé 1 tuổi, để qua đó có thể quan tâm, chăm sóc con mình một cách tốt nhất.

SỰ TĂNG CÂN CỦA BÉ

Ðể dễ nhớ, chúng ta có thể dựa vào cân nặng lúc sinh của bé: Bé tròn 12 tháng có cân nặng trung bình gấp 3 lần cân nặng lúc sinh (Ví dụ: bé sinh ra có cân nặng trung bình 3-3,5kg, khi tròn 12 tháng nặng 9-10kg là bình thường). Bé tròn 24 tháng có cân nặng gấp 4 lần cân nặng lúc sinh. Nói cách khác với bé 1 tuổi, mỗi tháng tăng trung bình từ 200-300g là bình thường. Trong quá trình phát triển, nếu có một tháng bé không tăng cân thì các bậc phụ huynh cũng đừng quá lo lắng, vì ở lứa tuổi này tốc độ tăng cân thấp hơn lúc dưới 1 tuổi, có tháng bé tăng cân và có tháng bé không tăng cân là điều bình thường. Nhưng nếu liên tục 2, 3 tháng bé không tăng cân, trái lại còn sụt cân thì nên đưa bé đến bác sĩ để được khám và tham vấn dinh dưỡng.
Cân nặng trung bình của bé ở lứa tuổi này


Tháng tuổi


Cân nặng bé trai (kg)


Cân nặng bé gái (kg)





12 tháng



8,1-12,4



7,4-11,6





18



9,1-13,9



8,5-13,1





24



9,9-15,2



9,4-14,5




SỰ TĂNG CHIỀU CAO CỦA BÉ

Bé mới sinh thường có chiều dài từ 48-52cm, khi tròn
12 tháng có chiều dài khoảng 75 cm, và khi tròn 24 tháng bé có chiều
cao trung bình là 85cm (có thể ước đoán chiều cao lúc trưởng thành
bằng 2 lần chiều cao bé đạt được lúc 2 tuổi). Như vậy, chúng ta thấy
trong 2 năm đầu đời, chiều cao của bé tăng rất nhanh. Năm đầu trung
bình tăng tổng cộng khoảng 25cm, năm thứ hai tăng tổng cộng khoảng
10cm. Nếu cha mẹ quan tâm chăm sóc bé tốt trong 2 năm đầu sẽ tạo
được tiền đề tốt cho chiều cao của bé lúc trưởng thành
Chiều cao trung bình của bé ở lứa tuổi này



Tháng tuổi


Chiều cao bé trai (cm)


Chiều cao bé gái (cm)





12 tháng



70,7-81.5



68,6-80





18



76,3-88.5



74,8-87,1





24



80,9-94,4



79,9-93



SỰ PHÁT TRIỂN VỀ RĂNG
Bé bắt đầu mọc răng khi được 6 tháng tuổi, sau đó số răng được tính bằng công thức: Số răng = Số tháng tuổi - 4 (Ví dụ: bé 18 tháng tuổi sẽ có 14 răng). Ðến 24 tháng bé hoàn tất bộ răng sữa 20 cái của mình. Có một số trường hợp bé chậm mọc răng, có thể do suy dinh dưỡng, còi xương; Vì vậy các bậc phụ huynh nên tăng cường phơi nắng vào buổi sáng cho bé (mỗi ngày từ 15-20 phút để cơ thể tổng hợp vitamin D), đồng thời chú ý cho bé uống sữa không dưới 500ml/ngày để cung cấp đủ calci. Chế độ ăn của bé cũng cần phù hợp với số răng, bé chỉ có thể ăn cơm khi đã có răng nhai (răng hàm). Một số bé tuy mọc răng chậm (Có thể là do yếu tố di truyền từ cha mẹ) nhưng vẫn khỏe mạnh, tăng trưởng bình thường so với lứa tuổi.

SỰ PHÁT TRIỂN VẬN ÐỘNG

Khi được 10-12 tháng, bé bắt đầu biết đứng chựng, lên 15 tháng biết đi bộ một mình và bò lên cầu thang. 18 tháng tuổi, bé biết chạy nhưng dáng chạy chưa được uyển chuyển, có thể leo lên cầu thang nếu được người lớn dắt tay, tự ngồi được trên ghế nhỏ và rất thích lục lọi ngăn kéo hoặc giỏ rác. Ðược 24 tháng, bé chạy tốt, lên xuống cầu thang từng bước một, biết nhảy, biết tự leo lên bàn ghế và tự mở cửa.

SỰ PHÁT TRIỂN VỀ NGÔN NGỮ

Bé 15 tháng biết nói líu ríu, gọi "ba", "mẹ" hoặc tên một vật quen thuộc nào đó. Ðến 18 tháng bé nói được trung bình 10 từ, xác định một hoặc nhiều phần của cơ thể. Lên 24 tháng, biết xếp 3 từ lại thành câu. Tuy nhiên, một số bé biết nói và nói sõi rất sớm, một số bé lại rất chậm nói. Tuy nhiên nếu cha mẹ thấy bé phát âm được vài từ, hiểu và làm được hầu hết các yêu cầu của người lớn thì chắc chắn bé sẽ nói được.

SỰ PHÁT TRIỂN VỀ TÂM LÝ VÀ XÃ HỘI

Khi được 15 tháng, bé biết làm theo các mệnh lệnh đơn giản, biết chỉ tay để nói lên đòi hỏi của mình, biết ôm chặt ba hoặc mẹ để bày tỏ sự thương yêu.
Lên 18 tháng bé thích tự ăn một mình hoặc làm một số việc, chỉ tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp rắc rối. Bé có thể giải thích khi bị ướt hoặc bị bẩn và đã biết ôm hôn ba mẹ.
Bé 24 tháng đã cầm muỗng tốt, biết phụ cởi quần áo, biết nói về những điều vừa trải qua và lắng nghe các câu chuyện tranh đơn giản.
Hiểu về quá trình phát triển của bé, cha mẹ sẽ biết cách tạo điều kiện cho con mình tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện nhất.

Nâng cao chỉ số IQ cho trẻ từ những năm đầu đời


Nâng cao chỉ số IQ cho trẻ từ những năm đầu đời


Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đi đến kết luận: sự biến đổi tâm lý của thai phụ có ảnh hưởng rất lớn đến thai nhi, và việc dạy dỗ trẻ tốt từ khi chưa lọt lòng có thể làm tăng chỉ số thông minh (iq) ở trẻ.

Nâng cao IQ từ trong bụng mẹ

Trong thời kỳ mang thai, nếu thai phụ được sinh hoạt trong hoàn cảnh tốt, nghe những điệu nhạc du dương, êm dịu, thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật, ngắm phong cảnh đẹp hoặc đọc những cuốn sách hay… thì biểu đồ sóng siêu âm cho thấy hoạt động của các cơ quan hoặc phản ứng sinh lý của thai nhi đều diễn ra rất tốt. Còn ngược lại, nếu trong thời gian mang thai, người mẹ phải chịu những áp lực không thuận lợi từ điều kiện sống thì những biểu hiện hoạt động tích cực của thai nhi cũng kém đi.
Các bà mẹ có thể tham khảo một số cách đơn giản sau đây để giúp nâng cao chỉ số IQ cho trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ
Âm nhạc: Từ khi người mẹ biết mình đã có thai, nên cho thai nhi tiếp xúc với âm nhạc mỗi ngày và mỗi khi có thời gian cho đến khi trẻ ra đời. Tốt nhất là nhạc thiếu nhi, dân ca, nhạc nhẹ, nhạc cổ điển. Điều này sẽ kích thích sự phát triển tri giác, đem lại hiệu quả “an thần” cho thai nhi.
Trò chơi: Khi người mẹ cảm nhận được sự vận động của thai nhi thì đã bắt đầu có thể chơi trò “vỗ một cái, động một cái; vỗ hai cái, động hai cái”. Trò chơi này kéo dài khoảng một tháng thì trẻ sẽ có những phản ứng phối hợp nhịp nhàng với động tác của mẹ.
Nói chuyện: Từ tháng thứ 6 trở đi, hệ thống thần kinh thính giác của thai nhi đã có thể cảm nhận được nhịp tim và sự hô hấp của mẹ. Sau bảy tháng, sẽ dần dần có phản ứng với những âm thanh đến từ môi trường bên ngoài. Vì vậy, mẹ có thể “nói chuyện” với thai nhi một cách dịu dàng, điều này không chỉ kích thích sự phát triển thính lực của thai nhi mà còn làm thai nhi cảm thấy thoải mái hơn.
Ăn uống: Những thai phụ có chế độ ăn uống cân bằng và đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của trẻ sau này, đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển trí não của trẻ.
Từ lúc sinh đến 3 tuổi
Giao tiếp bằng mắt: Những khoảnh khắc tuy ngắn ngủi này cũng đem lại những lợi ích cho trẻ. Khi trẻ mở to mắt, hãy nhìn vào mắt trẻ. Trẻ có khả năng phân biệt khuôn mặt từ rất sớm, và mỗi lần trẻ nhìn thấy bạn khả năng quan sát và trí nhớ của trẻ dần dần được hình thành.
Cho trẻ bú sữa mẹ: Cố gắng cho trẻ bú sữa mẹ một thời gian dài. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, những trẻ được bú sữa mẹ có chỉ số IQ khá cao. Khi cho trẻ bú, bạn hãy tranh thủ hát cho trẻ nghe, đó chính là cơ hội tốt để “giao lưu” với trẻ.
Tán gẫu: Lúc đầu chắc chắn bạn sẽ chỉ nhận được cái nhìn ngơ ngác của trẻ, hãy dừng lại một chút cho trẻ có cơ hội tham gia câu chuyện. Dần dần, trẻ sẽ “a…a…” trò chuyện với bạn cho mà xem.
Xem phản ứng của trẻ: Cho trẻ tự soi mình trong gương. Ban đầu, có thể trẻ sẽ tưởng bóng mình trong gương là một đứa trẻ dễ thương nào đó, nhưng chẳng bao lâu sẽ đến lúc trẻ sẽ rất thích thú vẫy tay chào chính mình trong gương.
Cù nhẹ vào chân trẻ: Bạn có thể cù nhẹ vào chân trẻ. Tiếng cười chính là hạt giống đầu tiên của sự hài hước. Bạn có thể nói rằng: “Mẹ đã bắt được con rồi!”, sau đó cù vào chân trẻ và dẫn dắt trẻ tham gia trò này.
Chỉ ra sự khác biệt: Lấy hai bức hình có sự khác biệt, đưa cách mắt trẻ khoảng 20-30cm cho trẻ xem, trẻ sẽ xem đi xem lại và dần dần phát hiện ra sự khác nhau. Điều này rất có ích cho việc học chữ của trẻ sau này.
Chia sẻ cùng trẻ những điều hai mẹ con nhìn thấy: Khi bế trẻ đi dạo, hãy chỉ cho trẻ những thứ bạn nhìn thấy và chia sẻ, trò chuyện cùng với trẻ. Như vậy trẻ sẽ có thêm cơ hội biết thêm nhiều từ mới cùng những sự vật ở thế giới xung quanh.
Ca hát: Hãy học thêm thật nhiều bài hát, hoặc nếu có khả năng, bạn cũng có thể tự soạn một số bài hát để hát cho trẻ nghe. Các chuyên gia cho rằng âm điệu của những bài hát có liên quan tích cực đến việc học toán của trẻ sau này.
Học tập ngay cả khi thay tã: Nhân cơ hội thay tã hãy chỉ cho trẻ biết cách gọi các bộ phận cơ thể hoặc tên của áo quần để giúp trẻ hiểu thêm về bản thân mình.
Tạo niềm vui bất ngờ: Những lúc rảnh rỗi, bạn nên nhẹ nhàng vuốt ve mặt, bụng hoặc tay chân để tạo niềm vui cho trẻ. Lúc đó bạn hãy quan sát phản ứng và khả năng phối hợp của trẻ.
Đọc sách: Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng trẻ 8 tháng tuổi đã có thể nhớ thứ tự của một số từ vựng trong những câu mà bạn nói với trẻ, điều này rất có lợi cho khả năng ngôn ngữ sau này của trẻ.
Giúp trẻ cảm nhận: Bạn hãy chuẩn bị một ít loại vải khác nhau như tơ tằm, nhung, vải sợi thô…, rồi nhẹ nhàng cọ xát những loại vải đó trên bụng, ngực, lòng bàn chân của trẻ. Vừa làm vừa miêu tả cho trẻ nghe cảm giác sẽ như thế nào.
Xem hình: Hình của những người thân hoặc họ hàng trong gia đình có thể giúp trẻ luyện trí nhớ. Chẳng hạn, khi bà nội gọi điện thoại cho trẻ, vừa để trẻ nghe giọng bà qua điện thoại, vừa đưa trẻ xem ảnh bà nội.
Tự tập ăn: Trẻ khoảng 10 tháng tuổi đã có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, bạn có thể tập cho trẻ tự cầm thức ăn thử xem.
Vượt chướng ngại: Đặt một số chướng ngại dưới sàn nhà, như: Gối ôm, gối tựa lưng, hộp giấy… sau đó bạn biểu diễn cho trẻ xem trước cách làm thế nào để vượt qua những thứ đó, nên bước qua hay nên bò phía dưới. Điều này giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động.
Mẹ và con cùng chơi: Khi trẻ sờ mũi bạn, bạn sẽ phùng hai má; trẻ kéo tai bạn, bạn phải le lưỡi ra; nếu trẻ đánh vào đầu bạn, bạn kêu lên một âm thanh khác lạ… Có thể lặp lại chừng ba bốn lần, sau đó có thể thay đổi quy luật và bắt trẻ đoán xem bạn sẽ làm gì.

Nhịp điệu sinh học trong giấc ngủ trẻ thơ


Nhịp điệu sinh học trong giấc ngủ trẻ thơ

Nhiều người có con nhỏ rất băn khoăn không biết làm thế nào để con mình ngủ ngon, đủ giấc vì bé cứ hay trăn trở, quấy khóc khi ngủ... Thực ra, đây không còn là vấn đề nan giải nếu họ nắm được nhịp sinh học trong giấc ngủ của bé.

Mọi hoạt động sống của sinh vật là một chuỗi những thay đổi định kỳ. Tất cả những biểu hiện đó được gọi là nhịp điệu sinh học. Điều thú vị là có rất nhiều nhịp điệu sống của sinh vật tương ứng với nhịp điệu vận động của thiên nhiên mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy. Chẳng hạn như nhịp thức - ngủ của con người, nhịp hoạt động ngày - đêm của các loài động vật và thời kỳ đâm hoa kết quả vào mỗi mùa xuân của cây cỏ...

Nhịp thức - ngủ của con người đã được hình thành từ rất lâu đời do sự tác động qua lại của cơ thể và môi trường. Vì vậy, nhịp điệu sinh học vừa mang tính nội tại (như khi các phi hành gia không gian bay vào vũ trụ hoặc khi ta đưa các sinh vật vào hang tối, chúng vẫn giữ được nhịp thức - ngủ như cũ), vừa mang tính ngoại cảnh (ví dụ công nhân làm ca đêm sẽ thích nghi bằng cách ngủ bù vào ban ngày, hoặc khi con người đi từ vĩ tuyến này sang vĩ tuyến khác, vẫn thích nghi được với mọi sinh hoạt ở hoàn cảnh mới).

Nhiệm vụ của chúng ta là điều chỉnh sao cho nhịp điệu nội tại cơ thể và nhịp điệu của ngoại cảnh luôn hài hòa và hợp nhất, tránh những rối loạn gây bất lợi cho cơ thể. Đối với con người - đặc biệt là trẻ em, trong quá trình sống và phát triển, hoạt động luân phiên thức ngủ là một nhu cầu sinh lý tự nhiên không thể thiếu. Nhịp thức ngủ là “nhịp điệu chìa khóa”, tác động và chi phối mọi nhịp sống khác của cơ thể.
Thời gian ngủ có liên hệ với độ tuổi không?
Thời gian ngủ tùy thuộc vào tuổi tác và yêu cầu của từng cơ thể. Ở người lớn, cứ 1 giờ hoạt động phải được bù bằng nửa giờ ngủ. Ở trẻ em, nhu cầu ngủ rất cao, cứ 1 giờ hoạt động phải bù lại bằng 2 giờ ngủ, tức là gấp 4 lần người lớn. Tuổi càng nhỏ, nhu cầu ngủ càng cao (trẻ sơ sinh ngủ 20-22 tiếng mỗi ngày). Khi lớn lên, nhu cầu ngủ sẽ giảm dần, đến 1 tuổi chỉ còn 16 tiếng, 2 tuổi còn 14 tiếng, 3 tuổi còn 13 tiếng. Khi 16 tuổi, trẻ chỉ còn ngủ 8 tiếng giống như người lớn.
Thời gian ngủ chủ yếu vào ban đêm; riêng với trẻ em thời gian ngủ ban ngày cũng rất quan trọng. Mỗi cá thể đều có nhu cầu ngủ khác nhau. Chúng ta cần đảm bảo và duy trì đúng nhịp điệu tự nhiên của nó. Phân bố chế độ sinh hoạt và giờ giấc hợp lý theo từng giai đoạn tuổi và từng cơ thể riêng biệt là yếu tố quyết định.

Thế nào là giấc ngủ nhanh và giấc ngủ chậm?
Giấc ngủ được cấu tạo bằng nhiều chu kỳ với hai trạng thái khác nhau, mỗi chu kỳ chia làm 5 giai đoạn. Giấc ngủ chậm chiếm khoảng 80% thời gian ngủ ở trẻ em, biểu hiện bằng các sóng chậm trên điện não gồm 4 giai đoạn với độ sâu tăng dần. Ở các giai đoạn này, hoạt động sống của cơ thể như nhịp tim, nhịp thở, chuyển hóa cơ bản giảm dần đến mức thấp nhất. Giấc ngủ nhanh (hay giai đoạn 5 của chu kỳ) tiếp nối với giấc ngủ chậm, chiếm khoảng 20% thời gian còn lại. Giai đoạn này hoạt động điện não được biểu hiện bằng các sóng nhanh gần giống như lúc thức. Hai loại giấc ngủ này nối tiếp nhau trong đêm tạo thành nhiều chu kỳ liên tiếp, mỗi chu kỳ của trẻ em chiếm khoảng 90 phút, riêng trẻ sơ sinh là 50-60 phút, người lớn là 120 phút.

Người ta nhận thấy trong giấc ngủ chậm, tuyến tiền yên ở não sẽ tiết ra kích thích tố tăng trưởng (growth hormone, GH). Kích thích tố này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hồi phục sức khỏe và thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cơ thể trẻ. Khi trẻ hoạt động thể lực nhiều như chơi đùa, tập thể dục, thể thao, giấc ngủ chậm sẽ gia tăng làm trẻ dễ ngủ và ngủ sâu hơn.

Khác với giấc ngủ chậm, giấc ngủ nhanh sẽ giúp trẻ hồi phục nhanh hơn sự mệt mỏi về tâm thần (như làm việc, học tập, các chấn thương tâm lý) và tác động lên sự trưởng thành của hệ thần kinh. Nó có tác dụng củng cố trí nhớ, giúp trẻ nhớ lâu và nhớ vững chắc hơn những thông tin ghi nhận được. Giấc ngủ nhanh sẽ gia tăng khi trẻ được luyện tập một môn nào đó như múa, hát. Nếu ngăn cản hay đánh thức giai đoạn này, trẻ sẽ dễ quên, tinh thần căng thẳng, hay cáu gắt, khó chịu, quấy khóc, đầu óc không minh mẫn khi học tập.

Làm thế nào để giúp trẻ có giấc ngủ tốt?
Nên tập cho trẻ có thói quen ngủ sớm và đúng vào một giờ đã định, nhằm tạo cho trẻ có một phản xạ nghỉ ngơi, giúp trẻ ngủ dễ dàng trong bất kỳ điều kiện nào.

Giảm tối thiểu các kích thích của ngoại cảnh cũng như nội tại lên hệ thần kinh trẻ trong lúc ngủ. Điều quan trọng nhất là phải tránh tiếng ồn và ánh sáng vì chúng làm giấc ngủ trẻ không sâu và dễ thức giấc. Ngoài ra, các yếu tố khác như để trẻ đói hoặc ăn quá no, không vệ sinh thân thể, quần áo quá chật, nằm sai tư thế, nơi ngủ bẩn chật và không thông thoáng đều gây tác hại xấu đến giấc ngủ.

Cần hết sức tránh các chấn thương về tâm lý như làm cho trẻ bị ức chế trước khi ngủ (như dọa nạt, quát mắng, kể những chuyện gây sợ hãi, cho xem phim ảnh kinh dị...). Trường hợp trẻ có tiêu tiểu trong khi ngủ, nên nhẹ nhàng làm vệ sinh và cho ngủ lại, không la mắng.
Cho trẻ vui chơi, vận động cơ thể đầy đủ cũng góp phần giúp ngủ sâu hơn. Khi trẻ khó ngủ, có thể dùng lời nói êm dịu để gây ám thị như “con nhắm mắt lại ngủ ngoan đi, mẹ thương” hoặc: “nhắm mắt lại ngủ giỏi đi con”... để giúp trẻ dễ đi vào giấc ngủ.

Mỗi trẻ có một nhu cầu về thời gian ngủ, độ dài và độ sâu khác nhau. Cha mẹ cần tạo mọi điều kiện cho trẻ ngủ đầy đủ, không nên đánh thức sớm. Thông thường, khi ngủ đủ giấc, trẻ sẽ tự động thức dậy, không cần phải gọi.

Trong trường hợp trẻ có rối loạn giấc ngủ (như mất ngủ liên tiếp vài đêm), cần đưa đi khám bệnh, không nên dùng thuốc ngủ khi chưa có ý kiến bác sĩ. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rối loạn giấc ngủ. Ở trẻ em, cần lưu ý đến các rối loạn giấc ngủ có liên quan đến tình trạng thiếu dinh dưỡng, thường đi kèm với tình trạng chán ăn, giảm ăn, giảm bú, nôn ói, chậm lớn... Các biểu hiện rối loạn giấc ngủ thường gặp ở các trẻ này gồm ngủ ít, trằn trọc khó ngủ, thức giấc nhiều lần trong đêm, mơ, nói mớ, ác mộng, mộng du, cơn khiếp sợ trong khi ngủ. Những rối loạn này có thể liên quan đến tình trạng thiếu kẽm kèm thiếu đa chất do giảm ăn như magiê, canxi, acid amin, vitamin nhóm B. Có thể nhanh chóng chữa khỏi khi trẻ được bổ sung kẽm và các chất dinh dưỡng thiếu hụt kể trên.

Thời gian thức - ngủ luôn xen kẽ nhau, tạo nên một nhịp điệu hài hòa, tự nhiên. Đây là một nhịp điệu sinh học quan trọng nhất của cơ thể, đặc biệt là ở trẻ em, vì vậy việc chăm sóc giấc ngủ cần hết sức được chú ý và quan tâm đúng mức.  
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Lỗ sáo lạc chỗ


Lỗ sáo lạc chỗ  

Lỗ sáo là lỗ ngoài của niệu đạo, là lỗ thoát nước tiểu, thường nằm ở đỉnh quy đầu. Ở một số bé trai, lỗ sáo lại nằm ở mặt dưới dương vật, khiến trẻ không đứng tiểu được mà phải ngồi như con gái.

Y học gọi dị tật này là lỗ đái thấp, với 3 thể. Ở thể nặng, lỗ sáo nằm tại phần gốc của dương vật, chiếm khoảng 5% trường hợp. Với thể trung bình (chiếm khoảng 45%), lỗ sáo nằm ở phần thân dương vật. Ở thể nhẹ (50%), lỗ này nằm tại mặt dưới của đầu dương vật.

Tật lỗ đái thấp có thể là dị tật đơn thuần, với biểu hiện dương vật biến dạng và bao tinh hoàn chẻ. Nhưng nó cũng có thể kèm theo những tật khác của cơ quan sinh dục như tinh hoàn ẩn, thoát vị bẹn...
Ở các bào thai nam, tật lỗ đái thấp phát sinh vào khoảng tuần thứ 10 đến tuần thứ 14, do sự chi phối của nhiều yếu tố. Trong đó, yếu tố di truyền đóng góp khoảng 70%. Ngày nay, với kỹ thuật siêu âm, người ta có thể phát hiện tật lỗ sáo thấp ở bào thai ngay từ lúc nó mới hình thành.
Những bé trai có lỗ sáo lạc chỗ phải được phẫu thuật sửa tật này. Qua thăm khám thực tế, thầy thuốc sẽ có hướng điều trị phù hợp với từng người cụ thể. Thí dụ, nếu có ẩn tinh hoàn, họ sẽ phẫu thuật đưa tinh hoàn về vị trí thích hợp. Bác sĩ sẽ làm lỗ đái nhân tạo ra tận đầu dương vật để trẻ có thể đứng đái theo tư thế nam giới và khi đến tuổi trưởng thành có thể phóng tinh bình thường.
BS Vũ Hướng Văn, Sức Khỏe & Đời Sống

Lịch mọc răng sữa của bé


Lịch mọc răng sữa của bé

Các răng sữa của hàm trên.

Khi mọc răng sữa, trẻ nhỏ thường trở nên cáu kỉnh quá thái. Bạn phải chờ đón sự bất thường này vào lứa tuổi nào? Có tất cả 20 chiếc răng sữa, 10 ở hàm trên và 10 ở hàm dưới. Chúng sẽ xuất hiện ở những thời điểm rất khác nhau ở các trẻ khác nhau.

Sau đây là kiểu mọc răng sữa thường gặp nhất do Bệnh viện Nhi đồng St. Louis (Mỹ) đề xuất:
- 4 răng cửa giữa (1) của hàm trên và hàm dưới: 5-8 tháng.
- 4 răng cửa bên (2): 7-10 tháng.
- 4 răng hàm đầu tiên (4): 12-16 tháng.
- 4 răng nanh (3): 14-20 tháng.
- 4 răng hàm thứ 2 (5): 20-32 tháng.
 (theo HealthScout)

Dị tật thận - niệu quản đôi ở trẻ


Dị tật thận - niệu quản đôi ở trẻ  

Dị tật này khá phổ biến, có khi tồn tại suốt đời bệnh nhân hoặc chỉ được phát hiện một cách tình cờ. Phần lớn các trường hợp thận - niệu quản đôi dẫn đến biến chứng nặng nề làm mất chức năng thận, thậm chí tử vong.

Thận - niệu quản đôi có thể bị cả hai bên (tức là bệnh nhân có bốn thận) hoặc chỉ một bên (có ba thận). Cặp thận đôi gắn vào nhau thành một khối nhưng vẫn có ranh giới. Thận ở trên là phụ nên thường nhỏ hơn thận chính nằm dưới. Hai niệu quản của thận đôi thường tách rời nhau và đổ vào bàng quang. Có trường hợp chỉ niệu quản của thận chính đổ vào bàng quang còn niệu quản kia đổ ra ngoài, gây nên hiện tượng đái rỉ.
Có khi cả hai niệu quản đều đổ vào bàng quang nhưng không đúng vị trí. Lỗ niệu quản trên thường đổ vào vị trí cao hơn bình thường và lỗ niệu quản dưới ở vị trí thấp (gần cổ bàng quang, ngay dưới cổ bàng quang, niệu đạo; ở nữ thì đổ ra ngoài niệu đạo, thậm chí âm đạo).
Lỗ niệu quản của thận phụ có thể có kích thước bình thường hoặc bị chít hẹp, tạo thành túi sa niệu quản, gây giãn đoạn niệu quản phía bên trên, ứ đọng nước tiểu và nhiễm trùng, dẫn đến viêm và suy thận.
Lỗ niệu quản của thận chính do nằm ở vị trí cao nên có thể mở rộng và bị nước tiểu trào ngược lên thường xuyên, gây giãn niệu quản và nhiễm trùng nước tiểu.
Các biểu hiện của thận - niệu quản đôi
- Nhiễm trùng đường tiết niệu: Là trường hợp hay gặp. Bệnh nhân có thể sốt nóng rồi rét run, nhiệt độ có khi lên tới 39-40 độ C; nước tiểu đục.
- Đái rỉ: Ngoài những lần tiểu thành bãi bình thường, nước tiểu cứ rỉ ra liên tục từ lỗ niệu. Ở trẻ gái, nước tiểu rỉ ra từ chỗ cạnh lỗ niệu hay từ âm đạo. Tình trạng này gây ra sự ẩm ướt và mùi khai khó chịu. Ở trẻ nhỏ, nước tiểu gây hăm, loét vùng sinh dục ngoài và bẹn.
- Tiểu khó hoặc không tiểu được: Bệnh nhân rất khó chịu và đau tức. Ở trẻ gái, có thể thấy một khối tròn nhỏ chui ra từ lỗ tiểu, bịt kín lỗ này.
- Bàng quang căng to: Nhìn vùng dưới rốn thấy có một khối nổi lên, nắn vào thì bệnh nhân rất đau tức và muốn tiểu, nhưng không tiểu được.
- Thận - niệu quản giãn căng: Nhìn thấy một bên mạn sườn căng phồng, to hơn bên đối diện. Nắn thấy một khối u mềm, căng.
Bệnh nhân thận - niệu quản đôi có thể bình thường hoặc gầy sút, mệt mỏi, đôi khi phù nhẹ toàn thân. Để xác định bệnh, ngoài khám lâm sàng, người bệnh cần được xét nghiệm máu, nước tiểu, siêu âm, chụp X-quang thận - niệu quản và bàng quang.
Tùy theo chức năng của thận đôi, bác sĩ sẽ chọn cách xử trí như: bảo vệ thận đôi bằng cách chỉ mở túi sa niệu quản; nối lại niệu quản của thận phụ vào bàng quang; cắt bỏ đi thận và niệu quản phụ.
TS. Trần Ngọc Bích, Sức Khoẻ & Đời Sống 

Cần đề phòng răng khôn mọc lệch


Cần đề phòng răng khôn mọc lệch ngay từ tuổi 14

Khi trẻ được 14-15 tuổi, tức là trước khi răng khôn nhô ra khỏi lợi, cha mẹ nên đưa trẻ đi khám và chụp X-quang hàm răng. Nha sĩ sẽ loại bỏ mầm răng nếu phát hiện nguy cơ răng khôn mọc lệch.

Răng khôn được hình thành ở tuổi 18, có thể mọc đúng vào tuổi này hoặc chậm hơn, thậm chí không bao giờ mọc. Răng khôn mọc hay không là tùy thuộc vào vị trí của nó trong xương. Nếu răng nằm ngang (không hiếm gặp), nó sẽ không mọc. Trừ trường hợp chiếc răng gây áp xe và nhiễm khuẩn, nhìn chung là không cần xử lý.
Nhưng nếu không tìm được đủ chỗ trên cung răng quá chật, răng khôn sẽ mọc lệch và xô đẩy những chiếc răng khác, khiến hàm răng bị xiên xẹo. Những chiếc răng không thẳng hàng sẽ dễ bị sâu hơn và gây các vấn đề về khớp cắn (sự hài hòa về tiếp xúc giữa răng hàm trên và hàm dưới). Một sự xê dịch, dù chỉ 1 mm, giữa 2 hàm răng có thể gây những rối loạn trầm trọng như đau tai, viêm xoang (nếu xoang bị lồi), co thắt ở khớp thái dương hàm rồi lan từng đợt sang đốt sống cổ và cột sống. Sự xê dịch đó cũng ảnh hưởng đến sự cân bằng của bộ xương.

Cách đề phòng

Để tránh những bất tiện kể trên, cha mẹ phải để ý đến răng của trẻ, dự đoán sớm nhất những chênh lệch về vị trí của răng khôn. Muốn vậy, cần chụp X-quang hàm răng vào giai đoạn răng khôn chưa mọc nhưng đã thấy được mầm răng trên phim X-quang. Răng khôn ở trạng thái mầm không có chân, trông giống như những viên bi nhỏ.
Quan sát phim chụp, nha sĩ ước lượng được vị trí răng sẽ mọc. Nếu chiếc răng khôn tương lai có thể làm xiên xẹo hàm răng, nha sĩ sẽ gắp bỏ mầm răng. Đây là một thủ thuật nhỏ, dễ thực hiện vì răng chưa có chân. Sau khi gây tê tại chỗ, nha sĩ sẽ rạch một đường nhỏ, lấy ra mầm của 2 răng khôn đối nhau (ở hàm trên và hàm dưới) nhằm tránh những vấn đề về khớp cắn khi chiếc răng kia mọc.
Nếu chiếc răng khôn đã mọc và bị lệch, bệnh nhân sẽ phải dùng kháng sinh 2 ngày trước khi mổ, và sau khi mổ phải dùng thuốc giảm đau, kháng viêm để làm tiêu phù nề.