Hiển thị các bài đăng có nhãn mon an. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mon an. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

RAU NGỖ-Tên khoa học: Enydra fluctuans Lour.



RAU NGỖ

-Tên gọi khác:Ngổ trâu, ngổ cộng, ngổ đắng, ngổ đất.
-Tên tiếng Anh:Buffalo spinach.
-Tên khoa học: Enydra fluctuans Lour.
Rau ngỗ

Phân loại thực vật

Giới (regnum):
Plantae
Bộ (ordo):
Asterales
Họ (familia):
Cúc (Asteraceae).
Chi (genus):
Enydra
Loài (species):
Enydra fluctuans Lour.

Phân bố

Rau ngổ (tên Miền Nam) còn được gọi là ngổ trâu (tên Miền Bắc) là loài thực vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, sau này lan rộng khắp Châu Á. Rau ngổ (tên Miền Nam) thuộc Họ cúc (Asteraceae).
Cần phân biệt với rau ngổ (tên Miền Bắc) chỉ loài rau om ở Miền Nam thuộc Họ Mã Đề (Plantaginaceae).
Rau ngổ mọc nhiều ở các ao hồ tại Việt Nam. Ngoài ra còn thấy có ở Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc.
Ở Nam Bộ, cây rau ngổ (ngổ trâu) mọc hoang dại trong các đầm lầy ngập nước, kể cả trong các ao tù nước đọng.

Mô tả

Rau ngổ (Ngổ trâu) mọc trên đất ẩm và bò dưới nước, sống nổi trên mặt nước.
-Thân: Thân dài hàng mét, thân hình trụ nhẵn không lông, phân cành nhiều, có mắt, không lông.
-Rể: Rể chùm, rể gốc mọc trong đất ẩm, rể đốt mọc trong nước, bám nhiều bùn.
-Lá: Lá rau ngổ dài, mọc đối hay từng ba cái một, không cuống, phía dưới ôm vào thân, mép có răng cưa, dài khoảng 5 cm, rộng 6-10 mm, phiến hẹp, nhọn, bìa có răng thưa.
-Hoa: Cụm hoa hình đầu, không cuống, hoa mọc ở nách lá, hay ngọn, có màu trắng hoặc lục nhạt; 4 lá bắc hình trái xoan. Toàn hoa ống, hoa ngoài là hoa cái hình thìa lìa, có tràng và chia 3 thùy, hoa trong lưỡng tính, hình ống có tràng hoa xẻ 5 răng. Nhị 5, bao phấn có tai nhọn và ngắn. Bầu hình trụ cong. Cây ra hoa từ tháng 11-12 đến tháng 4 năm sau.
-Quả: Quả bế không mào lông.
Rau ngổ (ngổ trâu) dễ bị lẫn với rau ngổ (tên miền Bắc) là loài Limnophila aromatica mà miền Nam gọi là rau om.
So với rau om, thân rau ngổ (ngổ trâu) to cao hơn, mùi ít hăng hơn, ít tinh dầu hơn. Rau ngổ (Miền Nam) không dùng làm gia vị kèm theo rau mùi, húng quế trong các món canh chua như ngò om mà dùng để xào với thịt bò hay tép, ăn kèm mắm kho, lươn um.

Thành phần hoá học

Rau ngổ có các thành phần như sau: nước 92,2%; protein 1,5%; lipid 0,3%; collulose 2,0%; dẫn xuất không protein 3,8%; khoáng toàn phần 0,8%. Còn có các caroten, vitamin B và vitamin C. Cây khô chứa tinh dầu 0,2% stigmastero, 0,05% và một lượng nhỏ một chất đắng là enydrin. Có tác dụng thông hoạt trung tiện, tiểu tiện, mát huyết, cầm máu.

Công dụng

a-Cây rau ngổ được dùng làm rau

Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ: “Rau ngổ mọc hoang ở ruộng và trồng ở bình nguyên để làm rau. Chứa enhidrin, bổ thần kinh, trị bịnh vì xáo trộn ở mật, trị băng huyết, thổ huyết, xổ, trị ăn khó tiêu, làm tốt da”
1-Dùng ăn sống: Thân rau ngổ non được rửa sạch, chẻ dọc hoặc bào sợi dùng để ăn sống hoặc bóp gỏi.
2-Dùng làm rau luộc: Thân rau ngổ non còn lá hoặc bỏ lá dùng làm rau luộc riêng hoặc phối hợp với các loại rau khác.
3-Dùng làm rau xào: Thân rau ngổ non tuốt lá, xắt khúc có thể dùng làm rau xào vớt thịt trâu, bò, gà, vịt, mực, tôm..
4-Dùng để nấu canh, lẩu: Thân rau ngổ non tuốt lá, xắt khúc có thể dùng để nấu canh chua, nấu lẩu có hương vị đặc biệt.
5-Dùng để muối dưa: Thân rau ngổ tuốt lá, có thể dùng để muối chua như thân rau muống.

b-Cây rau ngổ được dùng như bài thuốc

Theo đông y, cây rau ngổ (tên Miền Nam) hay ngổ trâu (tên Miền Bắc) vị đắng, tính mát, mùi thơm, không độc; có tác dụng thông hoạt trung tiện, tiểu tiện, mát huyết, cầm máu. Cây rau ngổ được dùng làm thuốc chữa cảm sốt, cầm máu băng huyết, thổ huyết, hạt dùng trị bệnh về gan mật và thần kinh. Lá nghiền đắp vào da trị phát ban, mụn rộp. Liều dùng 12-20g, dạng thuốc sắc dùng ngoài không kể liều lượng. 

Các bài thuốc từ cây rau ngổ (ngổ trâu)

1. Chữa bí trung tiện, bí đái, đái ra máu băng huyết do nóng: Rau ngổ tươi 30g giã nát, cho thêm nước chín để nguội, khuấy đều, lọc lấy nước bỏ bã, pha thêm đường để uống (theo Thaythuoccuaban.com).
2. Cầm máu vết thương: Giã nát cành lá rau ngổ tươi, gói vào gạc rồi băng vào vết thương (theo Thaythuoccuaban.com).
3. Viêm tấy: Rau ngổ tươi giã đắp (theo Thaythuoccuaban.com).
4. Ăn uống không tiêu, đầy bụng: Rau ngổ 16g, Nam mộc hương 15g, nước 750ml, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày 

RAU MÁC-Tên khoa học: Monochoria hastata (L.) Solms.



RAU MÁC

-Tên gọi khác: Rau Mác thon, Dong nước.
-Tên tiếng Anh: Arrowleaf False Pickerelweed, Arrow Leaf Pondweed, arrow-leaf monochoria, hastate-leaf pondweed.
-Tên khoa học: Monochoria hastata (L.) Solms.
-Tên đồng nghĩa: Monochoria hastaefolia Presl , M.  dilatata Kunth,Pontederia hastata Linn. , P. vaginalis Blanco,.
Cây rau mác

Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Thài lài (Commelinales).
Họ (familia):
Chi:
Loài:
Lục bình (Pontederiaceae).
Monochoria
Monochoria hastata.

Phân bố

Rau mác (Monochoria hastata) là một loài thực vật có hoa trong Họ Lục bình (Pontederiaceae).Có nguồn gốc ở Châu Á và trên nhiều quần đảo Thái Bình Dương, là loài cỏ dại quan trọng trên ruộng nước ngọt trũng thấp.
Ở Việt Nam câ rau mác xuất hiện trên cả nước. Ở Nam Bộ cây rau mác sống hoang dại trên các ruộng đất trũng thấp ở ĐBSCL.

Mô tả

Trong số 5 loài Rau Mác thuộc họ Pontederiaceae (Lục bình), chuyên sống ở ruộng nước, ao hay mương lạch nước sâu thì cây rau Mác thon (Monochoria hastata) có dạng lá và hoa đẹp nhất.
-Thân: Rau mác thon là nê thực vật (cây có rễ, củ ngầm dưới nước, sình lầy), thân đứng ngắn.
-Rể: Rể chùm mọc từ thân ngầm, màu trắng, mọc sâu trong bùn.
-Lá: Lá có cuống cao giúp vươn lên khỏi mặt nước, dài 25-50 cm. Phiến lá hình tam giác dạng mũi tên, dài 4-26cm, rộng 4,5-10 cm, màu lục.
-Hoa: Phát hoa thành chùm ngắn, gần như nằm trên cuống lá. Cụm hoa là chùm ngắn, dày, hoa màu lam, rộng 1,5cm; lá đài 3; cánh hoa 3, rời, giống như lá đài; nhị 5, màu vàng, 1 nhị to màu tím; bầu 3 ô. Hoa màu xanh lam rất đẹp. Ra hoa quanh năm.
-Quả: Quả nang nhiều hạt.

Thành phần hóa học

Trong rau mác có 85,6% nước 3,1% protid 8,2% glucid, 1,7% xơ, 1,4% tro, 2,6mg% caroten và 26,2% vitamin C.

Cách dùng

a-Rau mác được dùng làm rau

Thân lá dùng làm thức ăn cho lợn. Ngọn và lá non dùng làm rau xào, nấu canh, có thể muối dưa. Củ làm thuốc bổ dưỡng, thuốc cầm máu, chữa mụn nhọt.
Ở Campuchia hoa và thân được bán ở chợ, dùng ăn với lẩu mắm.
1-Dùng làm rau sống, bóp gỏi: Bẹ và lá non của cây rau mác có thể dùng làm rau sống để ăn trực tiếp. Bẹ của cây rau mác tuốt lá có thể dùng để bóp gỏi ăn sống.
2-Dùng để luộc: Bẹ của cây rau mác tuốt lá có thể dùng để luộc với các loại rau rừng khác.
3-Dùng để xào: Bẹ của cây rau mát tuốt lá có thể dùng để xào với các loại rau rừng khác.
4-Dùng để nấu canh chua, nấu lẩu: Bẹ của cây rau mát tuốt lá có thể dùng để nấu canh chua và nấu lẩu.
5-Dùng để muối dưa: Bẹ của cây rau mát tuốt lá có thể dùng để muối dưa chua với rau muống, bông súng...

b-Rau mác được dùng làm thuốc

-Theo Đông y: Rau mác có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng , lợi niệu. Ở Việt Nam còn dùng cả cây sắc uống giải nhiệt, chữa cảm nắng. Củ làm thuốc bổ dưỡng, thuốc cầm máu, chữa mụn nhọt.
Cây rau mác chuyên dùng chữa sản hậu chóng mặt, đau nhói trong tim, cũng dùng chữa bệnh lậu có sỏi, chữa ho, ho ra máu nhưng uống nhiều thì có độc. Hoa làm sáng mắt, trừ chứng thấp, đinh độc, trĩ, lậu. Lá dùng chữa thũng độc lâu ngày, trẻ em nổi đơn độc, mụt lở và hôi nách (giã nát đắp vào).
-Theo Hải Thượng Lãng Ông thì cây rau mác có dược tính như sau:
Cây thân thảo, lá hình mũi mác.
Hoa trắng to, tập họp thành chùm.
Củ là thuốc bổ, đau tim.
Trĩ, lậu, sản hậu...còn tìm loại chi?
-Ở Trung Quốc người ta còn dùng trị sản dịch, an thai và bệnh ngoài da, rắn cắn ong đốt, các loại mụn nhọt ở ngứa, cảm nắng,trị lỵ, viêm ruột, viêm đau lợi răng, sưng amygdal cấp tính, viêm họng.
-Ở Ấn Ðộ, người ta dùng rễ nhai chữa đau răng, vỏ cây ăn với đường trị hen,dùng dịch lá để chữa mụn nhọt, và cây được dùng làm thuốc chữa bệnh tâm thần.
-Ở Philippines củ rau mác nấu lấy nước uống để trị đau bao tử và ngậm để trị nhức răng.
-Ở Việt Nam: Toàn cây 50 – 100 g sắc uống trị lỵ, viêm ruột, viêm họng, viêm lợi, viêm amiđan, mụn nhọt, rôm sẩy, trúng nắng.
                                                                                                  Kỹ sư Hồ Đình Hải

KÈO NÈO-Tên khoa học: Limnocharis flava (L.) Buchenau.



KÈO NÈO

-Tên gọi khác: Cù Nèo, Tai Tượng, Nê Thảo.
-Tên tiếng Anh: Yellow burrhead.
-Tên khoa học: Limnocharis flava (L.) Buchenau.


Phân loại thực vật

Bộ (ordo):
Trạch tả (Alismatales).
Họ (familia):
Chi (genus):
Loài (species):
Nê thảo (Limnocharitaceae).
Kèo nèo (Limnocharis).
Limnocharis flava (L.) Buchenau

Phân bố

Nguồn gốc Châu Mỹ, nhập vào Đông Nam Á từ đầu thế kỷ 20 và trở thành cỏ dại trong ruộng lúa ở vùng này. Hiện nay cây kèo nèo phân bố ở Đông Nam Á và Châu Mỹ.
Ở Việt Nam cây kèo nèo xuất hiện trong cả nước và mọc hoang dại như một loại cỏ trên đất ngập nước ở vùng ĐBSCL.

Mô tả

Kèo nèo là thực vật sống trên đất sình lầy, bùn ẩm, mương cạn. Cây đơn tử diệp, đa niên, dạng bụi (cao 20-100 cm).
-Thân: Thân ngầm mọc trong đất, mang nhiều chồi để mọc cây mới. Các bẹ lá phía trên mặt đất tạo thành thân giả. Khi trưởng thành cây cao khoảng 45-60cm. và độ sâu tối đa khoảng 15cm.
-Rể: Rể chùm, mọc trong đất bùn mềm. Thân rễ dày và ngắn, cây sống ở đầm lầy, nước nông, chỗ ứ đọng nước, độ sâu tối đa khoảng 15cm, nếu trồng trong chậu thì đất phải có nhiều mùn.
-Lá thẳng và hướng lên, không trôi nổi trên mặt nước, thường cao hơn cán hoa. Lá có phiến dạng xoan, tròn (5-30 x 4-25 cm), màu xanh lục tươi, gân chính cong. Cuống lá dài dạng bẹ (dài 10-75 cm), xốp (chứa không khí), có mặt cắt có có 3 khía hình tam giác. Phiến lá có hình dạng thay đổi: dạng mác đến elip thuôn dài hoặc ovan rộng. Đỉnh lá nhọn đột ngột, ở phía chóp mỏng hơn, mép lá hơi quăn, rìa lá gợn sóng. Có 4-6 đôi gân dọc gần như song song và hôi tụ theo hướng đỉnh, hàng loạt gân ngang song song và vuông góc với gân dọc và gân chính ở giữa tạo thành mạng hình mắt lưới mảnh.
-Hoa có từ 1-4 cuống cụm hoa, kiểu phát hoa dạng tán, 2-12 hoa nằm trong tổng bao là lá bắc. Cuống hoa nhỏ, có phần mở rộng và có mặt cắt tam giác ở phía trên. Mỗi hoa có 3 cánh màu vàng vàng nhạt đến vàng tươi, hình ovan rộng hoặc tròn, mang 15-20 tiểu nhụy (dài 1,2 cm) và rất nhiều tiễu noãn.
-Quả nhỏ (đường kính 1,5-2 cm), được đài hoa bao bọc.Kèo nèo sinh sản, lây lan bằng hạt và phát triển quần thể bằng sinh sản vô tính.
Kèo nèo  trông giống cây lục bình (tức bèo Nhật Bản), nhưng khác lục bình ở hai đặc điểm cơ bản.
-Một là cây lục bình thì nổi trên mặt nước, còn kèo nèo, gốc rễ bám dưới bùn đất, cành ngọn vươn lên mặt nước.
-Hai là về mùa nước nổi, lục bình theo gió nước trôi dạt bốn phương, còn cù nèo bám đất, nước dâng đến đâu vươn ngọn đến đấy.

Công dụng

a-Kèo nèo dùng làm rau

Cũng là thứ rau trong bữa ăn hàng ngày của người Nam Bộ nhưng kèo nèo được ưa dùng hơn: Làm rau sống, bóp gỏi, luộc, xào, nấu canh chua, nấu với lẩu, muối dưa…
Loài cây được coi như một thứ rau dại ấy đã trở thành một nét đặc biệt trong văn hóa ẩm thực của miền Tây Nam Bộ.
1-Làm rau sống: Bẹ và lá kèo nèo non dùng làm rau sống.Đặc biệt để ăn với mắm kho.
2-Làm rau luộc: Bẹ và lá kèo nèo non dùng làm rau luộc.
3-Làm rau xào: Bẹ và lá kèo nèo non dùng làm rau xào.
3-Dùng để nấu canh chua, nhúng lẩu: Bẹ kèo nèo non dùng để nấu canh chua và nhúng lẩu. Kèo nèo thường xuất hiện trong những món lẩu của người Nam Bộ. Món lẩu mắm dù đã có nhiều loại trái và rau như: cà tím, hoa súng, rau đắng, rau muống… nhưng sẽ mất ngon nếu thiếu kèo nèo. Ăn với kèo nèo, món lẩu mắm như đậm đà hơn, đặc sắc hơn.
4-Dùng để muối dưa chua: Bẹ kèo nèo non dùng để muối dưa chua riêng hoặc với các loại rau khác.

b-Kèo nèo dùng làm thuốc

Theo y học cổ truyền, cây kèo nèo là vị thuốc chữa trị các chứng đau lưng, nhức mỏi, mát gan, lợi tiểu…
Ghi chú: Cây kèo nèo có khả năng hấp thu nhiều kim loại nặng, không nên dùng kèo nèo ở những nơi nước đọng, ô nhiểm để làm rau hoặc làm thuốc.
                                                                                                   Kỹ sư Hồ Đình Hải

CÂY LỘC VỪNG



CÂY LỘC VỪNG

Cây lộc vừng Hồ Gươm (Barringtonia acutangula)

Cây lộc vừng –Cây Mứng- Huế (Barringtonia acutangula)

Cây lộc vừng- Cây chiếc-Nam Bộ (Barringtonia asiatica)
-Tên gọi khác: Cây rau vừng, Cây chiếc, Cây mưng, Ngọc nhị tam lang.
-Tên tiếng Anh: Asian barringtonia, Beach barringtonia, Mango-pine, mangobark, Cornbeefwood, Fish Poison Tree, Fish-killer-tree, Putat or Sea Poison Tree.
-Tên khoa học: Barringtonia asiatica (L.) Kurz
-Tên đồng nghĩa:
Agasta asiatica Miers
A. indica Miers
Barringtonia acutangula (L.) Gaertn.
B. butonica J.R.Forst.
B. speciosa J.R.Forst. & G.Forst.
Mammea asiatica L. (basionym)
Michelia asiatica Kuntze

Phân loại khoa học


Giới (Kingdom):
Thực vật (Plantae)
Ngành (Phylum):
Thực vật có hoa (Angiosperms)
Lớp (Class):
Hai lá mầm thực (Eudicots)
Phân lớp (Subclass):
Bộ (Order):
Họ (Family):
Lộc vừng (Lecythidaceae)
Chi (Genus):
Loài (Species):
Barringtonia asiatica

Chi Lộc vừng (Barringtonia) là cây bản địa vùng Đông Nam Á và Australia, được biết khoảng 10 loài (species) khác nhau gồm:
1-Barringtonia acutangula (Lộc vừng Hồ Gươm).
2-Barringtonia asiatica (Lộc vừng Nam Bộ-Cây rau vừng).
3-Barringtonia calyptrata (Lộc vừng Australia).
4-Barringtonia edulis Seem.
5-Barringtonia payensiana (Lộc vừng Malaysia)
6-Barringtonia procera (Miers) R.Knuth
7-Barringtonia racemosa (L.) Spreng.
8-Barringtonia reticulata (Blume) Miq.
9-Barringtonia samoensis A.Gray
10-Barringtonia seaturae H.B.Guppy (= B. petiolata ).
Ở Việt Nam cây Lộc vừng có nhiều loài khác nhau nhưng có dạng hình tương tự nhau với nhiều tên gọi khác nhau như: Lộc vừng (Miền Bắc), Cây Mưng (Miền Trung), Cây chiếc, Cây rau vừng (Miền Nam).

Phân bố

Chi Lộc vừng (Barringtonia) là cây bản địa vùng Đông Nam Á và Australia, được phân bố ở Trung Á (Afghanistan ), Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh), Đông Nam Á (Thái Lan, Việt Nam, Cam puchia, Philippines, Indonesia) và Châu Úc (Australia, Queenland)…Thường là những loài cây hoang dại hoặc được trồng để làm rau và cây cảnh.
Mô tả
+Loài Lộc vừng phổ biến nhất: là Cây chiếc hay Rau vừng -Nam Bộ (Barringtonia asiatica ), có nguồn gốc từ môi trường sống ngập mặn trên bờ biển, hải đảo nhiệt đới của Ấn Độ Dương và tây Thái Bình Dương từ  Zanzibar phía đông Đài Loan , Philippines , Fiji , New Caledonia , Quần đảo Cook , Wallis và Futuna  vàPolynesia thuộc Pháp. Loài này được trồng dọc theo đường phố cho mục đích trang trí và bóng mát ở một số vùng của Ấn Độ, ví dụ trong một số thị trấn trên bờ biển phía đông nam. Nó còn được gọi là Boxtree do quả giống hình hộp có mặt cắt ngang gần hình vuông của nó. Loài này được mô tả và mang tên đầu tiên là Mammea asiatica bởi Carl Linnaeus vào năm1753.
Cây Lộc vừng Barringtonia asiatica là một loại cây phổ biến trong Rừng ngập mặn, ở Malaysia loài này xuất hiện trên các vùng đất ngập nước như các vùng đất ngập nước Kuching và Vườn quốc gia Bako. Tên Mã Lai của loài này được gọi là “Putat laut” hoặc “Butun”.
Ở Việt nam loài này mọc hoang ở vùng ven biển Nam Bộ và vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên.
-Thân: Đây là một loài cây gỗ cao 7-20 m.
-Lá: Các lá hình thuôn hẹp , dài 20-40 cm và rộng 10-20 cm . Lá non mềm, bóng, màu xanh vàng ửng nâu, có vị chát, hơi chua, nên được nhiều người thích dùng làm rau.
-Hoa: Hoa lớn, màu hồng trắng, hoa tỏa mùi hương ngọt ngào thu hút dơi và bướm đêm để thụ phấn.
-Quả: Loài quả lộc vừng có có mặt cắt ngang giữa quả có hình hộp nên trong tiếng Anh còn gọi là Boxtree. Đây là một đặc điểm để căn cứ phân loại, những loài tiết diện ngang của quả hình tròn được xem là biến thể của loài này, có thể được phân chia thành loài khác, chính đặc điểm này gây ra nhiều rắc rối trong việc phân loại cây lộc vừng.
Quả có đường kính 9-11 cm, có lớp xơ dầy bao quanh hạt, làm cho quả này trôi nổi trên nước biển và có thể tồn tại tới 10-15 năm, chúng phát tán giống như quả dừa khô trôi trên biển.

Quả cây lộc vừng
-Hạt: Hạt có vỏ rắn, dường kính 4-5 cm.
+Loài quan trọng thứ hai là cây Lộc vừng hoa đỏ (Barringtonia acutangula),loài này có nguồn gốc từ vùng đất ngập nước ven biển ở miền nam Châu Á và Bắc Úc , phân bố từ Afghanistan về phía đông Philippines và đảo Queensland.
Loài này là cây Lộc vừng được người Pháp du nhập và cho trồng ở quanh bờ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội). Đây là loài cây có công dụng dược liệu quan trọng.
+Loài quan trọng thứ ba là cây lộc vừng hoa trắng hay hồng (Barringtonia racemosa ( L. ) Roxb.). Loài này còn có tên là Lộc vừng hoa chùm, Chiếc chùm, Cây mưng, Tam lang.
Có tên thường gọi trong tiếng Anh là Stream Barringtonia, Freshwater Mangrove, Indian Oak, Indian Putat, Fish killer tree.

Thành phần hóa học

Tất cả các bộ phận của cây đều có chứa chất độc hại , chất độc hại điển hình là các hoạt chất saponin. Thành phần các hoạt chất Saponins gồm:
1-Barringtoside A: 3-O-beta-D-xylopyranosyl (1 -> 3) - [beta-D-galactopyranosyl (1 -> 2)-beta-D-glucuronopyranosyl barringtogenol C;
2-Barringtoside B: 3-O-beta-D-xylopyranosyl (1 -> 3) - beta-D-galactopyranosyl (1 -> 2)]-beta-D-glucuronopyranosyl-21-O-tigloyl-28 -O-isobutyryl barringtogenol C;
3-Barringtoside C: 3-O-alpha-L-arabinopyranosyl (1 -> 3) - [beta-D-galactopyranosyl (1 -> 2)]-beta-D - glucuronopyranosyl barringtogenol C.
Các hợp chất độc Saponins có nhiều nhất trong quả cây lộc vừng (có nhiều nhất ở cây lộc vừng hay rau vừng  Nam Bộ (Barringtonia asiatica ). Ở nhiều nước Nam Á và Đông Nam Á người ta đâm nát quả lộc vừng để rải xuống ao, hồ làm chất độc thuốc cá. Chất độc này có tác dụng làm cho cá ngột ngạc, bị khờ và nổi lên để dể bắt. Nhưng chất độc trong thịt cá ở hàm lượng thấp không đủ gây độc cho người ăn cá.
Chính vì vậy trong tiếng Anh có tên gọi cây lộc vừng là: Fish Poison Tree (Cây thuốc cá) , Fish-killer-tree (Cây diệt cá), Putat or Sea Poison Tree (Cây độc biển).

Công dụng của cây lộc vừng

a-Đọt và lá non cây lộc vừng dùng làm rau
Về hương vị, màu sắc và cảm quan, đọt và lá cây lộc vừng rất được ưa chuộng để dùng làm rau ở một số nước vùng Đông Nam Á, đặc biệt ở Nam Bộ Việt Nam lá lộc vừng được xem như một loại rau đặc sản để ăn sống và nấu canh chua.
Người Châu Âu rất sợ ăn lá cây lộc vừng vì chất độc nhất là các chất Saponins có trong loại cây này. Họ cho rằng người Việt Nam và một số nước Đông Nam Á ăn rau lộc vừng theo kiểu “ điếc không sợ súng”!
Bản thân tác giả đề nghị người Việt Nam ta nên hạn chế và tốt nhất không nên ăn rau từ các loài cây lộc vừng và nhắn gửi những người đã đọc qua trang web này có lời khuyên với nhiều người khác nên tránh ăn rau lộc vừng, mặc dù hiện nay có nhiều người ca tụng loại rau này, trong đó có những nhà hàng sang trọng đang quảng cáo rau rừng như một mốt thời đại!

Rau lộc vừng (lá chiếc) Nam Bộ
b-Quả cây lộc vừng dùng làm chất độc diệt cá
Trong kinh nghiệm dân gian ở một số nước trong vùng Nam Á và Đông Nam Á dùng quả già của cây lộc vừng đâm nát làm bả thuốc diệt cá trong ao hồ để cá khờ dể bắt.
Các dùng này không phổ biến ở Việt nam.
c-Cây lộc vừng trồng làm cây cảnh
Do cây lộc vừng sống lâu, có nhiều cành, dể uốn, sửa thế nên được nhiều người dân ở Việt nam cũng như ở các nước Châu Á dùng trồng làm cây cảnh trong chậu và cây cảnh cổ thụ.
Ở Việt Nam cây lộc vừng mọc hoang được bứng trồng trong chậu để làm cây cảnh. Do giá đắt của cây cảnh lộc vừng, cây sống hoang dại ở vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và vùng ven biển Nam Bộ bị săn lùng để bứng làm cây cảnh nên trong tự nhiên loài cây này giảm đi trầm trọng. Cây lộc vừng sống lâu, ít sâu bệnh, có hoa và chùm quả đẹp nên được giới trồng cây cảnh rất ưa thích.

Cây lộc vừng trồng làm cây cảnh
Hiện nay tại làng Siêu Quần, xã Phong Bình (Phong Điền, Thừa Thiên- Huế) cách thành phố Huế chừng 40 km về phía Bắc được bao bọc bởi rừng lộc vừng cổ thụ (người làng gọi là cây mưng). Trên con đê, hàng nghìn cây lộc vừng xanh mướt chạy dài dọc cánh đồng.Rừng cây lộc vừng hay cây mưng ở nơi đây theo ghi nhận của làng đã khoảng 500 năm tuổi.
Người xưa đã đắp đê ngăn mặn để trồng trọt và chọn cây lộc vừng trồng thành bốn vòng bao quanh làng để giữ đất, chắn sóng. Đến nay, cây lộc vừng không ngừng phát triển với diện tích khoảng 20 ha, chiếm 1/5 diện tích làng.
Theo các cụ trong làng cho biết sở dĩ làng có thể giữ được rừng lộc vừng như bây giờ là nhờ vào hương ước. Làng nghiêm cấm người dân chặt phá cây mưng. Người nào chặt dù là cành nhỏ phải cầm mõ đi quanh làng mà rao rằng: "Tôi bẻ cành, chặt mưng của làng, đã phạm tội đến tổ tiên, từ nay tôi không dám vi phạm nữa”.
Giờ không còn chuyện rao mõ nữa, nhưng mới đây một người dân trong làng bứng cây mưng nhỏ về nhà trồng, bị phát hiện đã bị làng xử phạt 500.000 đồng và bị nêu tên trên loa truyền thanh của xã.
Rừng lộc vừng (cây mưng) 500 tuổi ở xã xã Phong Bình (Phong Điền, Thừa Thiên- Huế)
Hiện nay tại Khu phố 7 – Thị Trấn Võ Xu - huyện Đức Linh - tỉnh Bình Thuận đang chào bán cây Lộc vừng cảnh có tuổi 500 năm (xem ảnh).

Cây lộc vừng cảnh ở Khu phố 7 – Thị Trấn Võ Xu - huyện Đức Linh - tỉnh Bình Thuận
d-Các bộ phận cây lộc vừng dùng làm thuốc chửa bệnh.
+Theo Đông y
Cây lộc vừng có tính vị: Rễ đắng, có tính hạ nhiệt. Hạt thơm.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ được dùng trị bệnh sởi. Quả dùng trị ho và hen suyễn. Nhân hạt giã ra thêm bột và dầu, dùng trị ỉa chảy. Hạt được dùng trị các cơn đau bụng, và bệnh về mắt, còn dùng để thuốc cá.
Quả lộc vừng xanh ép nước bôi chữa chàm hoặc ngâm rượu trị nhức răng. Vỏ cây chứa nhiều tanin, dùng chữa bệnh tiêu chảy, đau bụng.
Ở Ấn Ðộ, rễ làm thông, làm mát, quả trị ho, hen và ỉa chảy, nhân hạt cùng với sữa dùng trị bệnh vàng da và các chứng bệnh về mật; hạt dùng trị đau bụng và bệnh về mắt, hạt và vỏ trị giun, xổ , sát trùng và để thuốc cá.
Ở Malaixia, lá hoặc cả rễ và vỏ dùng đắp trị ghẻ và các nốt đậu.
Ở Philippines, vỏ thân chữa vết thương, nếu sắc uống lại có tác dụng chữa đau dạ dày.
+Theo Tây y
Trong cây lộc vừng hoa đỏ -loài trồng ở Hồ Hoàn Kiếm-Hà Nội (Barringtonia acutangula) có các chất:
-axit ellagic: 3'-dimetoxy dihydromyticetin.
-axit galic.
-axit bartogenic.
-stigmasterol este
-triterpenoids: Olean-18-en-3beta-OE-coumaroyl este và Olean-18-en-3beta-OZ-coumaroyl 12, 20 (29)-lupadien-3-o.
-Các đồng phân loại Oleanane triterpenoids:
-racemosol A (1): [22alpha-axetoxy-3beta, 15alpha, 16alpha, 21beta-tetrahydroxy-28-(2-methylbutyryl) Olean-12-ene.
-isoracemosol A (2): [21beta-axetoxy -3beta, 15alpha, 16alpha ,28-tetrahydroxy-22alpha-(2-methylbutyryl) Olean-12-ene.
-Các hợp chất Saponins:
-barringtoside A.
-barringtoside B.
- và barringtoside C.
-các glucosid saponin
-vỏ chứa 18% tanin.
Hổ hợp các hoạt chất này trong dịch chiết của rể và quả cây lộc vừng(Barringtonia acutangula) được Tây y xác định:
1-Có tác dụng chống viêm: được sản xuất dạng tân dược.
2-Sản xuất thuốc kháng sinh: có triển vọng.
3-Tác dụng chống loài vi trùng gây viêm loát dạ dày, tá tràng (Helicobacter pylori) là một trong những nguyên nhân gây bệnh ung thư dạ dày do vi trùng này đã được xác định (theo Samanta SK. Nhattacharya. Mandal C. Pal BC. Journal of Asian Natural Products Research. 12 (8): 639-48, 2010 Aug.).
4-Chất chiết của hạt lộc vừng hoa đỏ (Barringtonia acutangula) có tác dụng chống ung thư đã được xác định (theo Samanta SK. Nhattacharya. Mandal C. Pal BC. Journal of Asian Natural Products Research. 12 (8): 639-48, 2010 Aug.).
5-Chất chiết trong vỏ và hạt cây lộc vừng có tác dụng giảm đau đã được xác định. (theo Journal of Ethnopharmacology. 86(1): 21-6, 2003 May.).
6- Chất chiết trong vỏ và hạt cây lộc vừng có tác dụng kháng nấm đã được xác định (theo International Journal of Research in Pharmaceutical Sciences 2010 1:4 (407-410).
Hiện nay có nhiều sản phẩm tân dược từ cây lộc vừng đã dược sản xuất và lưu hành trên thế giới.

Một số bài thuốc từ cây lộc vừng

1-Chữa bệnh trĩ bằng lá cây lộc vừng:
Bài thuốc này rất đơn giản, đã được nhiều người dùng. Rất an toàn và dể kiếm và hiệu quả cao. Một chét lá cây lộc vừng tuơi - khoảng 20gram (cây trồng làm cảnh ở mọi nơi đều có). Yêu cầu lá Bánh tẻ (không non quá, không già quá) rửa bằng nước nhiều lần cho thật sạch, lần cuối rửa bằng nước sôi nguội, để ráo nước, buổi tối trước đi ngủ khoảng 15 phút, nhai lá cây, nuốt lấy nước, bã đắp vào hậu môn (dùng một miếng Polyethylen sạch lót phía ngoài sao cho không bị thấm mất nước từ bã ra ).
Tác dụng : làm hết táo bón, co búi trĩ (nội và ngoại) chống viêm, cầm máu. Dùng một đợt từ 7-10 ngày, sau đó nếu có thể kiếm được lá lộc vừng ăn sống khoảng 10 ngày nữa thi không còn bị khổ vì trĩ nữa. (theo nguyentampharma.com).
2-Trị bệnh đau bụng, tiêu chảy, sốt:
Vỏ thân lộc vừng, thu hái quanh năm, cạo bỏ lớp bần bên ngoài, rửa sạch, thái phiến, phơi hoặc sấy khô được dùng làm thuốc chữa đau bụng, tiêu chảy, sốt, do vỏ chứa nhiều tanin (16%). Khi dùng, lấy 8-16g vỏ sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. (theo Dược sĩ ĐỖ HUY BÍCH).
3-Quả cây lộc vừng chữa đau răng:
Quả lộc vừng còn xanh, ép lấy nước, bôi chữa chàm, hoặc nghiền nhỏ ngâm với rượu, ngậm nhổ nước chữa đau răng. (theo Dược sĩ ĐỖ HUY BÍCH).
Tài liệu tham khảo